|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 191/DS-ST Ngày: 26/9/2024 “V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tám
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan
Ông Trần Văn Chánh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 928/2023/TLST- DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 250/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 1425/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần N
Địa chỉ trụ sở chính: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D – Chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thành V – Giám đốc Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh Đ.
Địa chỉ: Số E - E, đường V, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Ông V ủy quyền lại cho:
Bà Chu Thị L, sinh năm 1978; Chức vụ: Trưởng Phòng Khách hàng bán lẻ ngân hàng TMCP N Chi nhánh Đ
Hoặc: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1982; Chức vụ: Phó Phòng Khách hàng bán lẻ ngân hàng TMCP N Chi nhánh Đ
- Bị đơn:
+ Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1976.
+ Bà Trương Trần Kim L1, sinh năm 1977.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Bà L có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Hoàng A, bà L1 vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần N (viết tắt là V1) đã cho ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 20230029/HĐTD/KHBL18/01/2023, nội dung cụ thể như sau:
Số tiền cho vay: 14,500,000,000 đồng(bốn tỷ năm trăm triệu đồng); Mục đích vay: Thanh toán tiền mua nhà ở; Lãi suất cho vay: Áp dụng theo thông báo lãi suất cho vay mua bất động sản không theo sản phẩm chuẩn của V1 – C tại thời điểm giải ngân. Kỳ điều chỉnh lãi suất: 3 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; Phương thức vay: từng lần; Thời hạn cho vay: 180 tháng kể từ ngày giải ngân vốn vay; Trả nợ gốc: Lịch trả nợ gốc: hàng tháng, trả định kỳ trong 180 kỳ; 179 kỳ đầu mỗi kỳ trả 80,550,000 đồng vào ngày 26 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 27/02/2023, kỳ cuối cùng trả 81,550,000 đồng vào ngày đến hạn ghi trên giấy nhân nợ; Trả lãi vay: định kỳ ngày 26 hàng tháng.
Tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên là: Quyền sử dụng thửa đất số 366 tờ bản đồ số 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 749048 ngày 06/12/2019; Quyền sử dụng thửa đất số 41 tờ bản đồ số 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 614715 ngày 30/10/2018; quyền sử dụng thửa đất số 38 tờ bản đồ số 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 032218 ngày 14/8/2012 theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 20230023/HĐBĐ/KHBL do Văn phòng C1 chứng thực ngày 18/01/2023 và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh V2 vào ngày 18/01/2023.
Thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 đã rút vốn vay từ ngày 19/01/2023 với tổng số tiền là 14,500,000,000 đồng (Mười bốn tỷ năm trăm triệu đồng). Quá trình vay, ông Hoàng A và bà L1 đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 241.650.000 đồng và số tiền lãi là 375.189.081 đồng. Từ ngày 26/04/2023, khách hàng không thanh toán đủ tiền gốc và lãi đến hạn cho ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện thoại, mời khách hàng lên làm việc nhưng ông Hoàng A và bà L1 không đến làm việc và không đóng tiền nợ gốc và lãi quá hạn.
Do đó, nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần N yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1:
- Buộc ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP N tạm tính đến ngày 26/09/2024 là 16,956,395,127 đồng, trong đó: dư nợ gốc là 14,258,350,000 đồng; lãi trong hạn là 2,642,940,652 đồng; lãi phạt của gốc quá hạn là 55,104,475 đồng.
- T buộc ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 20230029/HĐTD/KHBL ngày 18/01/2023 cho đến ngày thực tế ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP N.
- Trường hợp ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh đến ngày thanh toán thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền thi hành bản án, kê biên, phát mãi các tài sản đảm bảo thuộc quyền sử dụng/sở hữu của ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 đang được thế chấp tại Ngân hàng để thu hồi nợ cho V1. Các tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất thửa đất số 366, tờ bản đồ 99; Quyền sử dụng đất trên thửa đất số 38, tờ bản đồ 99 và Quyền sử dụng đất thửa đất số 41, tờ bản đồ 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai theo Hợp đồng thế chấp số 20230023/HĐBĐ/KHBL được Văn phòng C1 chứng thực ngày 18/01/2023, đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh V2 ngày 18/01/2023.Số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ gồm cả gốc và lãi của Ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 đối với V1, nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP N.
Tại bản tự khai ngày 11/3/2024, bị đơn ông Nguyễn Hoàng A trình bày:
Ông xác nhận, ông và bà L1 đã nhận được Thông báo thụ lý và tiếp cận đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP N. Toàn bộ nội dung nguyên đơn trình bày tại Đơn khởi kiện là đúng sự thật và ông và bà L1 đồng ý trả nợ cho nguyên đơn. Tuy nhiên, hiện nay vợ chồng ông đang khó khăn trong việc bán tài sản để trả nợ nên ông đề nghị Tòa án cho ông thời gian 06 tháng để ông trả nợ cho Ngân hàng. Ông đồng ý với cách tính tiền lãi của Ngân hàng tại Đơn khởi kiện và Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký. Trường hợp vợ chồng ông không trả được nợ cho ngân hàng thì ông đồng ý để cơ quan có thẩm quyền tiến hành phát mãi tài sản là quyền sử dụng các thửa đất số 366, 41, 38 cùng tờ bản đồ số 99 xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Hiện nay các thửa đất trên do ông và bà L1 đang trực tiếp quản lý, sử dụng; trên đất có một số cây trồng nhưng giá trị không lớn nên ông không có yêu cầu gì. Ông xác định, ông và bà L1 hiện đang sinh sống tại địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, ngoài ra không còn địa chỉ nào khác.
Quá trình giải quyết vụ án bà Trương Trần Kim L1 vắng mặt nên không có lời trình bày
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật, thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật; thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Tại Điều 11 của Hợp đồng tín dụng số 20230029/HĐTD/KHBL18/01/2023, các đương sự đã thỏa thuận: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến Hợp đồng này được giải quyết trên cơ sở thương lượng giữa các bên. Trong trường hợp không thương lượng được, các bên thống nhất giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền của Việt Nam nơi Ngân hàng Thương mại Cổ phần N Chi nhánh Đ có trụ sở tại thời điểm nộp đơn khởi kiện”. Do đó, việc nguyên đơn lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng và phù hợp với điểm b, g khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Chu Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc vì lý do khách quan nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.
[2]. Về nội dung tranh chấp:
Quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Trần Kim L1 đã nhận được thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng không đến Tòa án để làm việc, không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Ông Nguyễn Hoàng A đã đến Tòa án làm việc và có bản tự khai đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, Tòa án căn cứ vào lời khai và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn và ông Nguyễn Hoàng A cung cấp để giải quyết vụ án.
2.1. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả tiền nợ vay và các khoản lãi:
Hợp đồng tín dụng số ERGEFIELD "M 110 HDTD" 20230029/HĐTD/KHBL18/01/2023 và Giấy nhận nợ số 01 ngày 19/01/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần N với ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự, Luật các tổ chức tín dụng nên có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành đối với các bên.
Theo lời khai và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, sau khi ký hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 đã rút vốn vay vào ngày 19/01/2023 với tổng số tiền là 14,500,000,000 đồng (Mười bốn tỷ năm trăm triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản; mục đích sử dụng vốn vay: Thanh toán tiền mua đất; Thời hạn cho vay: 180 tháng; ngày giải ngân: 19/01/2023; Ngày đến hạn: 19/01/2038; Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm vay 14,5%/năm, Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Quá trình vay, ông Hoàng A và bà L1 đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 241.650.000 đồng và số tiền lãi là 375.189.081 đồng. Đối chiếu với Bản sao kê gốc, lãi vay của khách hàng Nguyễn Hoàng A thể hiện: Từ kỳ thanh toán ngày 26/04/2023, khách hàng không thanh toán đủ tiền gốc và lãi đến hạn cho ngân hàng. Do bị đơn chưa trả hết được tiền gốc cũng như tiền lãi nên phải chịu lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất phạt chậm trả đã cam kết tại hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết.
Tại Bản tự khai ngày 11/3/2024, bị đơn ông Nguyễn Hoàng A cũng thừa nhận toàn bộ khoản nợ gốc, đồng ý với cách tính lãi của Ngân hàng và đồng ý trả nợ cho ngân hàng trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày 11/3/2024. Do đó, việc V1 khởi kiện yêu cầu ông Hoàng A và bà L1 trả số tiền nợ gốc và các khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng đã ký (lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả) là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích trên, cần buộc ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP N tạm tính đến ngày 26/09/2024 là 16,956,395,127 đồng, trong đó: dư nợ gốc là 14,258,350,000 đồng; lãi trong hạn là 2,642,940,652 đồng; lãi phạt của gốc quá hạn là 55,104,475 đồng theo hợp đồng tín dụng số 20230029/HĐTD/KHBLngày 18/01/2023
Ông Hoàng A và bà L1 còn phải trả thêm khoản lãi phát sinh từ ngày 27/9/2024 đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 20230029/HĐTD/KHBL18/01/2023 trên số tiền và thời gian chậm trả.
2.2 Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo của nguyên đơn trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ:
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 20230023/HĐBĐ/KHBL được công chứng vào ngày 18/01/2023 giữa V1 với ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, không bị lừa dối, các điều khoản của hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất số 366 tờ bản đồ số 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 749048 ngày 06/12/2019; Quyền sử dụng thửa đất số 41 tờ bản đồ số 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 614715 ngày 30/10/2018; quyền sử dụng thửa đất số 38 tờ bản đồ số 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 032218 ngày 14/8/2012 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Hoàng A được đăng ký thế chấp tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh V2 vào ngày 18/01/2023. Do đó, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 20230023/HĐBĐ/KHBL được công chứng vào ngày 18/01/2023 giữa V1 với ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành với các bên.
Tại Điều 4 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 20230023/HĐBĐ/KHBL được công chứng vào ngày 18/01/2023 quy định: “Ngân hàng có quyền xử lý Tài sản Đảm Bảo khi xảy ra ít nhất một sự kiện vi phạm và /hoặc theo quy định pháp luật... Việc xử lý Tài sản đảm bảo được thực hiện theo quy định tại Hợp đồng và quy định pháp luật”
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ các tài sản thế chấp. Ông Hoàng A và bà L1 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tòa án đã thông báo và gửi cho ông Hoàng A và bà L1 kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ các thửa đất thế chấp nhưng ông A và bà L1 không có ý kiến gì.
Tại Điều 4 Hợpthế chấp quyền sử dụng đất số 0481.18/48.11-TCBĐS ngày 22/6/2018 quy định: “Ngân hàng có quyền xử lý tàiđảm bảoxảy ra ít nhất một sự kiện vi phạm và /hoặc theo quy định pháp luật... Việc xử lý tàiđảm bảo được thực hiện theo quy định tại Hợpvà quy định pháp luật”
Tại Bản tự khai ngày 11/3/2024, bị đơn ông Nguyễn Hoàng A xác định, trường hợp vợ chồng ông không trả được nợ cho ngân hàng thì ông đồng ý để cơ quan có thẩm quyền tiến hành phát mãi tài sản là quyền sử dụng các thửa đất số 366, 41, 38 cùng tờ bản đồ số 99 xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Hiện nay các thửa đất trên do ông và bà L1 đang trực tiếp quản lý, sử dụng; trên đất có một số cây trồng nhưng giá trị không lớn nên ông không có yêu cầu gì.
Do đó trường hợp ông Hoàng A và bà L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc phát mãi tài sản đảm bảo được dùng để cấn trừ nghĩa vụ trả nợ của ông
Hoàng A, bà Kim L1 đối với Ngân hàng. Nếu số tiền phát mãi tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ trên của ông Hoàng A, bà Kim L1 thì ông Hoàng A, bà Kim L1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho V1. Yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản đảm bảo là có cơ sở chấp nhận.
[3]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 155, 157 Bộ luật tố tụng dân sự, ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 phải nộp 5.732.280 đồng (Năm triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn hai trăm tám mươi đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo vẽ. Do nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ nên ông ông Hoàng A, bà Kim L1 phải hoàn lại số tiền này cho V1.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 phải chịu số tiền 112.000.000 đ + (0,1% x 12.956.395.127) = 124.956.395đ (một trăm hai mươi bốn triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm chín mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 40, Điều 147, Điều 155, Điều 157, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 280, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 351, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng 2010; Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại tòa án nhân dân; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N đối với ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
Buộc ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 thanh toán một lần toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP N tạm tính đến ngày 26/09/2024 là 16,956,395,127 đ (mười sáu tỷ chín trăm năm mươi sáu triệu ba trăm chín mươi lăm nghìn một trăm hai mươi bảy đồng), trong đó: dư nợ gốc là 14,258,350,000 đồng; lãi trong hạn là 2,642,940,652 đồng; lãi phạt của gốc quá hạn là 55,104,475 đồng.
Ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 còn phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 20230029/HĐTD/KHBL18/01/2023 kể từ ngày 27/9/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi quá hạn phát sinh thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần N có quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thi hành bản án kê biên phát mãi tài sản đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 20230023/HĐBĐ/KHBL được Văn phòng C1 chứng thực ngày 18/01/2023; đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- Chi nhánh V2 ngày 18/01/2023 để thu hồi nợ theo quy định. Tài sản đảm bảo cụ thể như sau: Quyền sử dụng thửa đất số 366 tờ bản đồ số 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 749048 ngày 06/12/2019; Quyền sử dụng thửa đất số 41 tờ bản đồ số 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 614715 ngày 30/10/2018; quyền sử dụng thửa đất số 38 tờ bản đồ số 99 tại xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BK 032218 ngày 14/8/2012.
Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản đảm bảo không đủ thanh toán hết khoản nợ của ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N thì ông A, bà L1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.
2. Về chi phí tố tụng: ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 phải hoàn trả số tiền 5.732.280 đồng (Năm triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn hai trăm tám mươi đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.
3. Về Án phí: ông Nguyễn Hoàng A và bà Trương Trần Kim L1 phải nộp 124.956.395đ (một trăm hai mươi bốn triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn ba trăm chín mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N số tiền 61.526.522 đ (Sáu mươi mốt triệu năm trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm hai mươi hai đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0009384 ngày 01 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tám |
Bản án số 191/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 191/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP N tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Hoàng A và bà Trần Thị Kim L1
