Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 191/2024/DS-ST

Ngày: 26/9/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dũng

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà, Ông Phạm Tiến Lợi

Thư ký phiên toà: Ông Tô Mạnh Hà– Thư ký TAND huyện Chương Mỹ.

Đại diện VKSND huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Triệu Thị H– Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST-DS ngày 01/02/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q2; Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, tòa nhà S, số A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V. Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Đăng K, ông Phan Lạc Mạnh Q, ông Lê Đức P.

2. Bị đơn:

  • 2.1. Ông Lê Tất H1, sinh năm 1988
  • 2.2. Bà Phạm Minh Q1, sinh năm 1992

Trú tại: Thôn B, xã H, C, Hà Nội..

Tại phiên tòa có mặt ông K, ông H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

I. Trong đơn khởi kiện nộp tại Tòa án và quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:

1. Quá trình ký kết Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm:

Ngân hàng thương mại cổ phần Q2 (V1) cho ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 vay vốn theo:

  • - Hợp đồng tín dụng số 6037688.20 ngày 06/5/2020 và Khế ước nhận nợ số: 6037688(1).20 ngày 06/5/2020, nội dung cụ thể như sau:

Số tiền vay: 160.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm sáu mươi triệu đồng)

Thời hạn vay: 60 tháng.

Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 12,1%/năm. Lãi suất này sẽ được V1 chủ động điều chỉnh 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,5%/năm.

Mục đích giải ngân: Vay mua 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA

  • - Giấy Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 20/02/2020 với hạn mức cho vay ban đầu là 51.000.000 đồng.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là:

Xe ô tô con màu trắng nhãn hiệu KIA, số loại Morning TA 12G E2 MT-1 số khung RNYTB51M5JC131711, số máy G4LAP031328, biển số 30G - 231.02, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 708152 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 06/05/2020.

Sau khi ký kết, V1 đã thực hiện giải ngân cho ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 đúng theo thỏa thuận tại HĐTD.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ dẫn đến khoản vay của ông H1, bà Q1 bị phát sinh nợ quá hạn kể từ ngày 20/3/2022.

Kể từ khi phát sinh nợ quá hạn đến nay, VIB đã nhiều lần làm việc và tạo điều kiện ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ, tuy nhiên ông H1, bà Q1 không thực hiện.

V1 cũng đã nhiều lần yêu cầu ông H1, bà Q1 bàn giao tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi khoản nợ nhưng ông H1, bà Q1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và không hợp tác để VIB xử lý tài sản bảo đảm

Ông H1, bà Q1 đã thanh toán cho ngân hàng số tiền 82.198.709 đồng. Trong đó gồm: Tiền gốc đã trả là 54.279.857 đồng. Tiền lãi 27.918.852 đồng

Tính đến ngày 24/9/2024 nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán tổng số tiền là 312.118.710 đồng. Trong đó gồm: Nợ gốc: 151.671.870 đồng; Nợ lãi trong hạn: 42.197.467 đồng; Lãi quá hạn + phí: 118.249.373 đồng.

Kể từ ngày 25/9/2024 ông H1, bà Q1 tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

II. Bị đơn ông H1, bà Q1 do ông H1 làm đại diện ủy quyền trình bày:

1. Về nghĩa vụ trả nợ:

Ông H1 xác nhận vào năm 2020 có ký kết hợp đồng tín dụng để vay tiền tại ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ như ngân hàng trình bày.

  • - Hợp đồng tín dụng số 6037688.20 ngày 06/5/2020 và Khế ước nhận nợ số: 6037688(1).20 ngày 06/5/2020:

Số tiền vay: 160.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm sáu mươi triệu đồng)

Thời hạn vay: 60 tháng.

Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân 12,1%/năm. Lãi suất này sẽ được V1 chủ động điều chỉnh 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm theo quy định của V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,5%/năm.

Mục đích giải ngân: Vay mua 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA

  • - Giấy Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 20/02/2020 với hạn mức cho vay ban đầu là 51.000.000 đồng.

Ông H1 bà Q1 đã được ngân hàng giải ngân cho vay và đã sử dụng chiếc xe ô tô. Sau đó thì ông H1 đã làm thủ tục chuyển nhượng lại xe cho một người tên T, hiện ở đâu không rõ, giấy tờ gốc thì hiện vẫn do ngân hàng quản lý.

Sau khi vay vốn thì ông H1, bà Q1 có trả được ngân hàng một phần nợ cụ thể đã trả 82.198.709 đồng. Trong đó gồm: Tiền gốc đã trả là 54.279.857 đồng. Tiền lãi 27.918.852 đồng.

Quan điểm ông H1 đề nghị ngân hàng tạo điều kiện cho cả số nợ gốc còn lại và miễn toàn bộ số lãi vì hiện tại ông làm nghề tự do điều kiện hoàn cảnh khó khăn.

2. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:

Bị đơn xác nhận để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng trên, Các bên có ký hợp đồng thế chấp tài sản là Xe ô tô con màu trắng nhãn hiệu KIA, số loại Morning TA 12G E2 MT-1 số khung RNYTB51M5JC131711, số máy G4LAP031328, biển số 30G - 231.02, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 708152 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 06/05/2020.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Chương Mỹ thể hiện quan điểm:

Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.Các đương sự đã được Tòa án yêu cầu tham gia đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ;

Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cụ thể:

  • - Buộc bị đơn phải trả nguyên đơn toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 24/9/2024 là 312.118.710 đồng. Trong đó gồm: Nợ gốc: 151.671.870 đồng; Nợ lãi trong hạn: 42.197.467 đồng; Lãi quá hạn + phí: 118.249.373 đồng.
  • - Xác định Hợp đồng thế chấp xe ô tô là có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành.
  • - Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Bị đơn là ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 cư trú tại: Thôn B, xã H, huyện C, Hà Nội; Việc Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thời điểm giao kết HĐTD, HĐTCTS, Bộ luật dân sự năm 2015 đang có hiệu lực pháp luật nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015 để giải quyết tranh chấp.

[2] Về nội dung.

2.1. Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

2.1.1 Xét tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số 6037688.20 ngày 06/5/2020 và Khế ước nhận nợ số 6037688(1).20 ngày 06/5/2020. Số tiền ngân hàng cho vợ chồng ông H1, bà Q1 vay 160.000.000₫ và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với hạn mức cho vay thông qua phát hành thẻ là 51.000.000 đồng. Nội dung của các Hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định Hợp đồng tín dụng số 6037688.20 ngày 06/5/2020, Khế ước nhận nợ số 6037688(1).20 ngày 06/5/2020 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thoả thuận của Hợp đồng tín dụng.

2.1.2. Xét yêu cầu buộc bị đơn phải trả toàn bộ gốc, lãi phát sinh của nguyên đơn:

Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP Q2 đã giải ngân cho ông H1 bà Q1 vay đủ số tiền 211.000.000 đồng, bị đơn đã nhận đủ thông qua khế ước nhận nợ và thẻ phát hành. Như vậy Ngân hàng TMCP Q2 đã thực hiện đúng thỏa thuận trong Hợp đồng.

Sau khi vay được tiền, ông H1 và bà Q1 mới trả được: 82.198.709 đồng. Trong đó gồm: Tiền gốc đã trả là 54.279.857 đồng. Tiền lãi 27.918.852 đồ. Đến nay ông H1, bà Q1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các kỳ trả nợ quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết và vẫn chưa thanh toán hết khoản vay trên. Như vậy ông H1, bà Q1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng.

Do đó Ngân hàng TMCP Q2 khởi kiện đề nghị buộc ông H1, bà Q1 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo là có căn cứ pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Theo đó, buộc ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng TMCP Q2 toàn bộ số tiền còn nợ cả gốc và lãi phát sinh của khoản vay tính đến ngày 24/9/2024 là 312.118.710 đồng. Cụ thể:

  • Hợp đồng tín dụng số 6037688.20 ngày 06/5/2020 và Khế ước nhận nợ số: 6037688(1).20 ngày 06/5/2020. Số tiền gốc còn nợ là 105.720.143 đồng. Nợ lãi trong hạn là 23.575.084 đồng. Nợ lãi quá hạn là 28.494.423 đồng.
  • Giấy Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 20/02/2020. Số tiền gốc là 45.951.727 đồng. nợ lãi 18.622.383 đồng. Nợ phí là 89.754.950 đồng.

Kể từ ngày 25/9/2024 ông H1, bà Q1 phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

2.2. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản:

Đối với yêu cầu đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản.

Xét: Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số: 6869239.20 ngày 06/5/2020 giữa ông Lê Tất H1, bà Phạm Minh Q1 với Ngân hàng TMCP Q2. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 06/6/2020. Theo đó tài sản đảm bảo cho khoản vay của ông H1, bà Q1 là: Xe ô tô con màu trắng nhãn hiệu KIA, số loại Morning TA 12G E2 MT-1 số khung RNYTB51M5JC131711, số máy G4LAP031328, biển số 30G - 231.02, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 708152 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 06/05/2020.

Khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp thì không bị ai ép buộc và trực tiếp ký. Hội đồng xét xử xác định: Các bên khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Theo đó thoả thuận trong Hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận của Hợp đồng thế chấp tài sản.

Do vậy: Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứvà phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó trường hợp ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q2 có quyền đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Xe ô tô con màu trắng nhãn hiệu KIA, số loại Morning TA 12G E2 MT-1 số khung RNYTB51M5JC131711, số máy G4LAP031328, biển số 30G - 231.02, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 708152 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 06/05/2020 để thu hồi khoản nợ.

[3] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 thì:

  • - Ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
  • - Ngân hàng TMCP Q2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 1 và khoản 2 Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 317, 318, 385, 398, 401, 463,466, 468 khoản 1 Điều 292, 293, 295, 298 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ các Điều: 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai năm 2003; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q2.

2. Về trách nhiệm trả nợ: Buộc ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q2 toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết tính đến ngày 24/9/2024 là 312.118.710 đồng. Cụ thể theo từng hợp đồng tín dụng như sau:

  • - Hợp đồng tín dụng số 6037688.20 ngày 06/5/2020 và Khế ước nhận nợ số: 6037688(1).20 ngày 06/5/2020. Số tiền nợ gốc là 105.720.143 đồng. Nợ lãi trong hạn là 23.575.084 đồng. Nợ lãi quá hạn là 28.494.423 đồng.
  • - Giấy Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 20/02/2020. Số tiền nợ gốc là 45.951.727 đồng. Nợ lãi 18.622.383 đồng. Nợ phí là 89.754.950 đồng.

Kể từ ngày 25/9/2024 ông H1, bà Q1 phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.

3. Về xử lý tài sản thế chấp:

3.1. Trường hợp ông H1 và bà Q1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thanh toán xong khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Q2 có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại khối tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là: Xe ô tô con màu trắng nhãn hiệu KIA, số loại Morning TA 12G E2 MT-1 số khung RNYTB51M5JC131711, số máy G4LAP031328, biển số 30G - 231.02, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 708152 do Phòng C Công an Thành phố H cấp ngày 06/05/2020.

3.2. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông H1 và bà Q1 vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc, lãi còn lại cho ngân hàng đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

4. Về án phí:

4.1. Ông Lê Tất H1 và bà Phạm Minh Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 15.635.906 đồng.

4.2. Trả lại Ngân hàng TMCP Q2 7.380.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001779/BLTU/23 ngày 30/01/2024.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - THA huyện Chương Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 191/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger