Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2024/HS-ST

Ngày: 18/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đức Thành
  2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Ông Trịnh Minh Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2024/TLST-HSST ngày 29 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2024/QĐXXST-HS ngày 04/9/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phùng Xuân D; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1979, tại Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: số A, ngách C đường N, xóm B, thị trấn V, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Phùng Xuân D1 (sinh năm: 1950); Họ tên mẹ: Vũ Thị L (sinh năm: 1952); Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba. Vợ: chưa; Con: Phùng Anh K (sinh năm 2015).

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 23/5/2023, bị Công an huyện T ra quyết định xử phạt số 78/QĐXPVPHC số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 23 NĐ 144 CP ngày 31/12/2021.

    Nhân thân: Ngày 18/8/2000, bị TAND thành phố Hà Nội xử phạt 14 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (Bản án số 1004/2000/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/12/2009 (đã được xóa án tích).

    D2 chỉ bản số 440 do Công an huyện T lập ngày 19/6/2024.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam số 2 Công an T5, có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Trần Thị Minh N; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1980, tại Hà Nội; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: ngõ C, đường T, xã T, huyện T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Trần Đức N1 (sinh năm: 1952); Họ tên mẹ: Vũ Thị N2 (sinh năm: 1954); Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Đỗ Văn T (sinh năm: 1976) (đã ly hôn); Con: có 3 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2015.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    D2 chỉ bản số 461 do Công an huyện T lập ngày 02/7/2024.

    Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công an huyện T, thành phố Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Ông Đào Thanh B, Trưởng Công an huyện T

Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Đình H, đội trưởng Đ (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Xã T, huyện T, Hà Nội

Những người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đình Văn N3, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  2. Trú tại: Đội 7, xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội

  3. Anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1983 (vắng mặt)
  4. Trú tại: Thôn D, xã H, huyện P, Hà Nội

  5. Anh Lê Việt C, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  6. Trú tại: Số 19, ngõ 565, đường Lạc Long Quân, phường Xuân La, quận Tây Hồ, Hà Nội

  7. Chị Lê Thị L1, sinh năm 1993 (vắng mặt)
  8. Trú tại: Xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa

  9. Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1983 (vắng mặt)
  10. Trú tại: thôn A, xã V, huyện T, Hà Nội

  11. Chị Hoàng Thị Thanh T1, sinh năm 1991 (vắng mặt)
  12. Trú tại: xã T, huyện T, Hà Nội

  13. Bà Nguyễn Thu H2, sinh năm 1971 (vắng mặt)
  14. Trú tại: Cụm A, thôn Q, xã V, huyện T, Hà Nội

  15. Anh Nguyễn Tất S, sinh năm 1980 (vắng mặt)
  16. Trú tại: xã Ngọc Hồi, huyện Thanh Trì, Hà Nội

  17. Ông Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1969 (vắng mặt)
  18. Trú tại: Tập thể B Tư Lệnh H, phường T, quận T, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Xuân D và Trần Thị Minh N có 01 con chung với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Khi đi qua trụ sở Công an huyện T, Hà Nội, D quan sát thấy sân sau bên trong trụ sở đoạn tiếp giáp với đường V có để nhiều xe môtô (đây là khu tạm giữ xe môtô vi phạm hành chính của Đội CSGT-TT- Công an huyện T) nên D đã nảy sinh ý định trèo tường vào bên trong tháo và trộm cắp bình ắc quy của xe môtô để trong sân. Để thực hiện hành vi trộm cắp D đã chuẩn bị kìm, cờ-lê, tuốc-nơ-vít và một số dụng cụ khác rồi cho vào 01 túi vải để mang theo người khi đi trộm cắp. Trần Thị Minh N biết D đi trộm cắp tài sản nên N đã giúp sức bằng việc trực tiếp chở D đến khu vực trộm cắp và trực tiếp đến đón về bằng xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen (Nguyệt mượn của một người phụ nữ không biết tên ở cùng nơi thuê trọ - N không nhớ biển kiểm soát của xe).

Rạng sáng ngày 16/6/2023 N đã dùng xe môtô mượn được đến đón và chở D đi đến gần tường khu vực nhà để xe của Công an huyện T để D trèo tường vào trộm cắp tài sản. Sau khi N đi về D đã trèo tường vào nơi tạm giữ xe của Công an huyện T và dùng tô vít tháo mặt nạ của xe môtô BKS 30Z6 – 2363 (xe của anh Đình Văn N3 – cán bộ đội C1) và xe môtô BKS 30L1-3243 (xe vi phạm Đội CSGT tạm giữ của anh Nguyễn Thanh V, sinh năm 1983, trú tại: Hồ N, P, Hà Nội) trộm cắp được 02 bình ắc quy và trèo tường ra ngoài và tự đi về.

Đến ngày 17/6/2023 D đi một mình đến phía tường bao của Công an huyện T và tiếp tục trèo tường đi vào khu vực nhà để xe của Công an huyện T trộm cắp được 06 chiếc bình ắc quy của:

  • Xe môtô BKS 88L1-502.24 (xe vi phạm Đội Cảnh sát kinh tế tạm giữ của anh Lê Việt C, sinh năm 1991, trú tại: Bình Dương, V, Vĩnh Phúc)
  • Xe môtô BKS 36B4-257.60 (xe vi phạm Đội Điều tra tổng hợp tạm giữ của Lê Thị L1, sinh năm 1993, trú tại: T, N, Thanh Hóa)
  • Xe môtô BKS 29M1-546.51 (xe vi phạm Đội Điều tra tổng hợp tạm giữ của anh Phạm Văn H1, sinh năm 1983, trú tại: V, T, Hà nội).
  • Xe môtô BKS 18D1-244.43 (xe vi phạm Đội Điều tra hình sự tạm giữ của Hoàng Thị Thanh T1, sinh năm 1991, trú tại: T, T, Hà Nội).
  • Xe môtô BKS 30Z6-6117 (xe vi phạm Đội CSGT tạm giữ của chị Nguyễn Thu H2, sinh năm 1971, trú tại: V, T, Hà Nội)
  • Xe môtô BKS 29P1-220.92 (xe vi phạm Đội CSGT tạm giữ của anh Nguyễn Tất S, sinh năm 1980, trú tại: N, T, Hà Nội). Sau khi trộm cắp được 06 ắc quy D gọi điện cho N đến đón và chở D cùng tang vật trộm cắp được mang về nhà.

Khoảng 01 giờ ngày 19/6/2023 D gọi N đến đón và chở D đến đường V đoạn đường tiếp giáp tường phía sau trụ sở Công an huyện T, Hà Nội thì N dừng lại để D tiếp tục trèo tường vào trộm cắp ắc quy và hẹn đón D vào lúc 03 giờ sáng cùng ngày. Sau đó N điều khiển xe môtô đi về còn D cầm túi vải trèo tường đi về phía khu tạm giữ xe môtô vi phạm hành chính của Đội CSGT- Công an huyện T ở phía bên trái và lấy các dụng cụ mang theo tháo mặt nạ của xe môtô Vision gắn BKS 29F1 – 582.29 (xe vi phạm Đội CSGT tạm giữ của anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1969, trú tại: T, T, Hà Nội) để trộm cắp bình ắc quy lắp trên xe, khi D đang tháo mặt nạ phía trước của xe môtô này thì bị các anh Đình Văn N3, Trần Quân T3 (là cán bộ đội CSGT) cùng các anh Phạm Văn T4 và anh Nguyễn Quốc H3 (là sinh viên thực tập nghiệp vụ tại Công an huyện T) phát hiện, hô hoán thì D liền ném bình ắc quy vừa trộm cắp được ra ngoài tường bao Công an huyện và bỏ chạy được một đoạn thì bị bắt giữ. Công an huyện T đã lập biên bản kiểm tra hành chính và tạm giữ tang vật gồm 01 túi vải màu xám bên trong có 02 kìm, 01 tuốc-nơ-vít, 01 bút thử điện, 06 cờ-lê, 01 mỏ-lết, 01 dao, 01 điện thoại di động nhãn hiệu viettel màu đen, 01 nắp hộp cầu chì xe môtô và 01 đôi dép màu xanh. Cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không thu hồi được chiếc bình ắc quy mà D đã ném đi.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin cùng ngày 19/6/2023 CQĐT công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phùng Xuân D ở số A, ngách C đường N thuộc xóm B, thị trấn V, huyện T, Hà Nội và thu giữ 04 bình ắc quy gồm:

  • 02 bình ắc quy vỏ màu đen, kích thước (10x10x5)cm có in dòng chữ GS GTZ 6V VRLA màu xanh dương.
  • 01 bình ắc quy vỏ màu đen, kích thước (10x7x5)cm có in dòng chữ GS GT 25SE VRLA màu vàng.
  • 01 bình ắc quy vỏ màu đen, kích thước (10x10x5)cm có in dòng chữ GLOBE màu trắng.

Và tạm giữ của D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 109 màu xanh.

Ngày 19/6/2023 Trần Thị Minh N đến CQĐT làm việc và giao nộp 01 điện thoại OppoA57 N dùng để liên lạc với D khi đi trộm cắp.

Tại cơ quan điều tra Phùng Xuân D khai nhận hành vi như đã nêu trên, lời khai của D phù hợp với lời khai của Trần Thị Minh N và các tài liệu do CQĐT thu thập được. D khai sau khi trộm cắp được 08 bình ắc quy D đã mang bán 04 bình cho cơ sở thu mua phế liệu được 300.000 đồng, còn 04 bình ắc quy D cất giữ ở nhà thì bị thu giữ khi khám xét khẩn cấp.

Ngày 17/10/2023, Cơ quan điều tra có Yêu cầu số 165 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T định giá bình ắc quy của các xe mô tô nhãn hiệu Honda bị mất ắc quy gồm: BKS 30Z6 – 2363; BKS 30L1-3243; BKS 88L1-502.24; BKS 36B4-257.60; BKS 29M1-546.51; BKS 18D1-244.43; BKS 30Z6-6117; BKS 29P1-220.92 và xe BKS 29F1 – 582.29.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 165/ KL- HĐĐGTS trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: trị giá mỗi bình ắc quy bị trộm cắp có trị giá là 450.000 đồng/bình.

Tại CQĐT Phùng Xuân D khai đã bán 04 bình ắc quy cho chị Phan Thị L2, (sinh năm 1997, cư trú tại thôn L, xã N, T, Hà Nội - làm nghề thu mua phế liệu) tuy nhiên chị L2 khai không quen biết D, không mua bất kỳ chiếc ắc quy nào của ai, CQĐT tiến hành đối chất nhưng không đủ căn cứ xác định D đã bán 04 bình ắc quy đã trộm cắp được cho chị L2 nên CQĐT không xử lý gì đối với chị L2.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen N dùng để chở D đi trộm cắp tài sản, do N không nhớ biển kiểm soát xe, không biết tên tuổi địa chỉ của người phụ nữ đã cho mượn xe nên CQĐT không có căn cứ xử lý.

Đối với 04 bình ắc quy và 01 túi vải màu xám, 02 kìm, 01 tuốc-nơ-vít, 01 bút thử điện, 06 cờ-lê, 01 mỏ-lết, 01 dao, 01 điện thoại di động nhãn hiệu viettel màu đen, 01 nắp hộp cầu chì xe môtô, 01 đôi dép màu xanh và 01 điện thoại Nokia 109 tạm giữ của Phùng Xuân D cùng 01 điện thoại OppoA57 tạm giữ của Trần Thị Minh N có liên quan đến hành vi phạm tội của D và N nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Đội CSGTTT- Công an huyện T và các chủ phương tiện bị tạm giữ có liên quan đến hành vi phạm tội của Phùng Xuân D không có yêu cầu đề nghị gì về bồi thương thiệt hại.

Tại bản cáo trạng số 179/CT-VKS-TT ngày 26/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Phùng Xuân D, Trần Thị Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố. Các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo D: xử phạt bị cáo D mức án từ 12 đến 14 tháng tù.
  • Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo N: xử phạt bị cáo N mức án từ 08 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 16 đến 20 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Về dân sự: Bị hại là công an huyện T không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Về biện pháp tư pháp: Truy thu đối với D số tiền thu lời bất chính 300.000 đồng.

Về vật chứng:

  • Trả lại công an huyện T 04 bình ắc quy tạm giữ của D.
  • Tịch thu sung công 01 túi vải màu xám, 02 kìm, 01 tuốc-nơ-vít, 01 bút thử điện, 06 cờ-lê, 01 mỏ-lét, 01 dao, 01 điện thoại di động nhãn hiệu viettel màu đen và 01 điện thoại Nokia 109, 01 nắp hộp cầu chì xe môtô tạm giữ của Phùng Xuân D.
  • Trả lại D 01 đôi dép màu xanh.
  • Tịch thu sung công 01 điện thoại OppoA57 tạm giữ của Trần Thị Minh N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ 01 giờ sáng ngày 16/6/2023 đến 03 giờ 00 ngày 19/6/2023 tại khu để xe thuộc trụ sở Công an huyện T, Hà Nội. Phùng Xuân D và Trần Thị Minh N đã trộm cắp của Công an huyện T, Hà Nội, 09 bình ắc quy của các xe mô tô BKS 30Z6 – 2363; BKS 30L1-3243; BKS 88L1-502.24; BKS 36B4-257.60; BKS 29M1-546.51; BKS 18D1-244.43; BKS 30Z6-6117; BKS 29P1-220.92; BKS 29F1 – 582.29 có trị giá 450.000đồng/ bình/xe.

Tổng trị giá tài sản mà D và N đã trộm cắp là 4.050.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này có tính chất đồng phạm nên cần phân tích, đánh giá mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để có cơ sở lượng hình cho phù hợp. Bị cáo D là người chủ mưu, chuẩn bị công cụ phạm tội, D nhờ N đưa đón D đi trộm cắp tài sản. N có vai trò đồng phạm giúp sức cho D. Do đó, D có vai trò cao hơn N và phải chịu mức hình phạt cao hơn.

[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo N phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51.

[5] Về trách nhiệm hình sự và biện pháp chấp hành hình phạt:

Các bị cáo có đủ năng lực, nhận thức để biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Nhưng xuất phát từ tư cách đạo đức kém và muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, các bị cáo đã lợi dụng sơ hở để trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, mục đích thu lợi, xâm phạm quyền sở hữu tài sản và trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại trụ sở công an huyện T, thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

Bị cáo D có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, và đã từng bị xử phạt 14 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, mặc dù đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần được giáo dục pháp luật, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Bị cáo N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù đối với bị cáo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 điều 173 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu về bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về biện pháp tư pháp: Bị cáo D đã thu lời bất chính 300.000 đồng từ việc bán tài sản, nên cần truy thu đối với bị cáo D số tiền trên.

[8] Xử lý vật chứng:

  • 04 bình ắc quy tạm giữ của D thuộc các xe mô tô do công an huyện T đang tạm giữ xe, nên cần trả lại cho công an huyện T.
  • 01 túi vải màu xám, 02 kìm, 01 tuốc-nơ-vít, 01 bút thử điện, 06 cờ-lê, 01 mỏ-lết, 01 dao, 01 điện thoại di động nhãn hiệu viettel màu đen, 01 nắp hộp cầu chì xe môtô và 01 điện thoại Nokia 109 tạm giữ của Phùng Xuân D là công cụ D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và liên lạc với N để đưa đón D đi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu sung công.
  • Trả lại D 01 đôi dép màu xanh.
  • 01 điện thoại OppoA57 tạm giữ của Trần Thị Minh N, N dùng để liên lạc với D, đưa đón D nên cần tịch thu sung công.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[9] Án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Phùng Xuân D và Trần Thị Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015.

    Xử phạt bị cáo Phùng Xuân D 12 (mười hai) tháng tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2024.

    Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015.

    Xử phạt bị cáo Trần Thị Minh N 10 (mười) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 20 (hai mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, Hà Nội giám sát, giáo dục người được hưởng án treo; trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
  4. Về dân sự: không có.
  5. Truy thu sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo Phùng Xuân D số tiền 300.000 đồng.
  6. Vật chứng của vụ án:
    • Trả lại công an huyện T 04 chiếc bình ắc-quy xe mô tô các loại (gồm 02 bình ắc-quy vỏ màu đen có in dòng chữ GS GTZ 6V VRLA màu xanh dương; 01 bình ắc-quy vỏ màu đen có in dòng chữ GS GT 25SE VRLA màu vàng; 01 bình ắc-quy vỏ màu đen có in dòng chữ GLOBE màu trắng.
    • Tịch thu sung công 01 túi vải màu nâu; 02 kìm các loại; 01 tuốc-nơ-vít; 01 bút thử điện; 06 cờ-lê các loại; 01 mô-lết; 01 côn đảo; 01 điện thoại nhãn hiệu viettel màu đen đã cũ, không sử dụng được; 01 nắp hộp cầu chì xe mô tô; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 109, màu xanh (Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, phồng pin, mất bàn phím) thu giữ của Phùng Xuân D.
    • Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, số Imei 1 dán phía sau máy: 869945060220973, số Imei 2 dán phía sau máy: 869945060220965. Số Imei 1 trong điện thoại là 869945061166811, số Imei 2 trong điện thoại là 869945061166803. Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong tạm giữ của Trần Thị Minh N;
    • Trả lại D 01 đôi dép nhựa màu xanh.

    Số vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/9/2024 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.

  7. Án phí và quyền kháng cáo:

    Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

    Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

    Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
NGUYỄN VĂN THẮNG
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 191/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger