|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 191/2024/HS-ST Ngày: 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh.
Thẩm phán: Bà Thái Thị Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Cao Thị Én
Ông Bùi Tấn Đô
Ông Nguyễn Thanh Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Cao - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 146/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 131/2024/HSST-QĐ, đối với bị cáo:
Phạm Quang T, sinh năm 1990 tại Đồng Nai. Nơi thường trú: Khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Nguyên cán bộ Công an huyện L, tỉnh Đồng Nai. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1963. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 10/6/2023, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 222/LTG-VPCQCSĐT ngày 15/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
(Bị cáo có mặt)
- Người bào chữa theo yêu chỉ định cho bị cáo: Luật sư Đinh Minh T2 – Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. (Có mặt)
Địa chỉ: số A, đường V, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Bị hại:
- Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1990. (có mặt)
- Anh Nguyễn Minh T3, sinh năm 1991. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Quốc M, sinh năm 1991. (có mặt)
- Chị Võ Thị Phương L, sinh năm: 1995. (có mặt)
- Anh Phạm Thành T4, sinh năm: 1987. (có mặt)
- Ông Nguyễn Tiến B1, sinh năm 1969. (vắng mặt)
Địa chỉ: trú: thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: G V, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1992. (vắng mặt)
- Anh Phạm Xuân T6, sinh năm 1990. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp C, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: 1, đường A, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Quang T nguyên là Cán bộ Công an xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Cán bộ Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện L. Ngày 09/5/2023, Công an tỉnh Đ đã có Quyết định số: 1266/QĐ-CAT-PX01 về việc cho xuất ngũ đối với Phạm Quang T.
Từ tháng 9/2022, khi Phạm Quang T còn đang công tác tại Công an xã T, huyện L, để có tiền đánh bạc và tiêu xài cá nhân, T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của những người quen biết với cùng một phương thức, thủ đoạn
như sau: T lấy danh nghĩa là cán bộ Công an huyện L, đưa ra thông tin gian dối là có khả năng giúp mua được các xe ô tô, mô tô thanh lý năm 2022, 2023 của Công an xã T, Công an huyện L và Công an tỉnh Đ. Để tạo lòng tin, T chụp hình, quay phim các xe ô tô và mô tô trong khuôn viên Công an huyện L gửi cho những người mua xe qua zalo và tự đưa ra giá của từng chiếc xe rồi yêu cầu người mua chuyển toàn bộ hoặc đặt cọc một phần giá trị xe cho T bằng tiền mặt tại L hoặc chuyển khoản đến số tài khoản 0401001407153 mở tại ngân hàng V của T. Đồng thời, T cam kết từ 01 đến 02 tháng sau khi chuyển tiền sẽ nhận được xe, giấy tờ xe đầy đủ, hợp lệ. Sau khi nhận được tiền, để tiếp tục tạo lòng tin và che giấu hành vi phạm tội của mình, T soạn thảo Quyết định giao xe hóa giá nhà nước số: 14/QĐ-GXHG đề ngày 30/11/2022, tại mục người ra Quyết định T ký giả chữ ký của đồng chí Nguyễn Văn G, Phó Trưởng Công an xã T, đóng mộc Công an xã T thể hiện nội dung giao xe cho người mua đồng thời T liên hệ tài khoản zalo “L”, tài khoản facebook “Kiên N” nhờ làm giả các quyết định giao xe do Công an tỉnh Đ thanh lý, giấy chứng nhận đăng ký xe đứng tên theo yêu cầu của người mua xe và chụp hình gửi cho họ.
Từ tháng 9/2022 đến tháng 6/2023, Phạm Quang T đã thực hiện 05 vụ Lừa đảo chiếm đoạt số tiền 6.861.400.000 đồng. Cụ thể như sau:
Vụ thứ 1: Khoảng tháng 8/2022, thông qua quen biết anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1990, nơi thường trú: thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk nên T nói với anh B rằng Công an xã T và Công an huyện L đang thanh lý xe ô tô và xe máy, anh B có mua xe thanh lý thì T mua giúp với giá rẻ và T cam kết từ 01 đến 02 tháng sau khi chuyển tiền sẽ nhận được xe, giấy tờ xe hợp lệ. T chụp ảnh, quay phim các xe ô tô, xe mô tô trong bãi xe tạm giữ và xe mô tô của cán bộ chiến sĩ trong khuôn viên của Công an huyện L gửi cho anh B xem và đưa ra giá từng loại xe, từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với xe ô tô và khoảng từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với xe mô tô. Do tin tưởng T là công an nên anh B đồng ý mua 16 xe mô tô và 6 xe ô tô, với tổng số tiền 320.000.000 đồng. Từ tháng 9/2022 đến tháng 6/2023, anh B đã nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản số 0401001407153 của T mở tại ngân hàng V với số tiền 315.700.000 đồng. Sau đó, T soạn thảo Quyết định giao xe hóa giá nhà nước số: 14/QĐ-GXHG đề ngày 30/11/2022 và tại mục người ra Quyết định, T ký giả chữ ký của ông Nguyễn Văn G, Phó Trưởng Công an xã T, đóng dấu Công an xã T thể hiện nội dung giao xe cho anh B. Đồng thời, T liên hệ tài khoản zalo “Lê L1” thuê làm giả 02 quyết thanh lý của Công an tỉnh Đ và liên lạc tài khoản facebook “Kiên N” nhờ làm giả 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Văn B với giá 1.000.000 đồng/ giấy giả rồi đưa cho anh B xem rồi lấy lại. Số tiền chiếm đoạt của anh B, T đã sử dụng tiêu xài và đánh bạc hết.
Vụ thứ 2. Khoảng tháng 11/2022, Phạm Quang T nói với anh Nguyễn Minh T3, sinh năm 1991, nơi thường trú: thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, nội dung: Công an xã T và Công an huyện L đang thanh lý xe ô tô, xe máy nếu anh T3 có mua xe thanh lý thì T mua giúp với giá rẻ và T cam kết từ 01 đến 02 tháng sau khi chuyển tiền sẽ nhận được xe, giấy tờ xe hợp lệ. T chụp ảnh, quay phim các xe ô tô, mô tô trong bãi xe tạm giữ và xe mô tô của cán bộ chiến sĩ trong khuôn viên của Công an huyện L gửi cho anh T3 xem và đưa ra giá từng loại xe, từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với xe ô tô và khoảng từ 2.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với xe mô tô. Anh Thạch T7 thật nên cùng với anh Nguyễn Quốc M, sinh năm 1991, ngụ tại: ấp C, xã T, huyện L (là em vợ của anh T3) đồng ý mua 14 xe ô tô, 19 xe mô tô, 01 xe ba gác và chuyển cho T số tiền 946.000.000 đồng (trong đó anh M góp 146.000.000 đồng) chuyển khoản vào tài khoản số 0401001407153 của T mở tại ngân hàng V và đưa tiền mặt cho T. Để anh T3 không nghi ngờ, T soạn thảo quyết định giao xe hóa giá nhà nước số 14/QĐ-GXHG đề ngày 30/11/2022, tại mục người ra Quyết định T ký giả chữ ký của ông Nguyễn Văn G, Phó Trưởng Công an xã T, đóng dấu Công an xã T thể hiện nội dung giao xe cho anh Nguyễn Minh T3. Đồng thời, T liên hệ tài khoản zalo “L”, nhờ làm giả các quyết định giao xe do Công an tỉnh Đ thanh lý đề ngày 10/2/2023 cho anh Nguyễn Minh T3 với giá 1.000.000 đồng/1 quyết định. Đối tượng làm giả đã chụp ảnh gửi qua zalo của T rồi T gửi qua zalo của anh T3 để anh T3 tin tưởng. Số tiền 946.000.000 đồng, T đã sử dụng tiêu xài và đánh bạc hết.
Vụ thứ 3: Vào ngày 14/12/2022, Phạm Quang T nhắn tin cho chị Võ Thị Phương L, sinh năm: 1995, nơi thường trú: thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, với nội dung: Công an xã T và Công an huyện L đang thanh lý xe ô tô và xe máy, chị L có mua xe thanh lý thì T mua giúp với giá rẻ và T cam kết từ 01 đến 02 tháng sau khi chuyển tiền sẽ nhận được xe, giấy tờ xe hợp lệ. Sau đó, T gửi hình ảnh, quay phim các xe ô tô, xe mô tô trong bãi xe tạm giữ và xe mô tô của cán bộ chiến sĩ trong khuôn viên của Công an huyện L gửi cho chị L xem, rồi đưa ra giá từng loại xe, từ 100.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với xe ô tô và khoảng từ 4.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với xe mô tô. Chị L tưởng thật nên đồng ý mua 24 chiếc xe ô tô và 25 xe mô tô. Từ ngày 14/12/2022 đến ngày 10/4/2023 chị L đã chuyển số tiền 1.725.800.000 đồng vào tài khoản số 0401001407153 của T mở tại ngân hàng V. Đồng thời, T gửi hình ảnh các giấy đăng ký xe giả và Quyết định giao xe giả cho cho chị L xem để làm tin. Sau khi biết bị T lừa, nên chị L đòi lại tiền thì T đã trả lại cho chị L số tiền 132.500.000 đồng. Còn lại số tiền 1.593.300.000 đồng T đã sử dụng tiêu xài và đánh bạc hết.
Vụ thứ 4: Vào ngày 20/02/2023, Phạm Quang T nói với anh Phạm Thành T4, sinh năm: 1987, nơi thường trú: G V, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh rằng: Công an xã T và Công an huyện L đang thanh lý xe ô tô và xe máy nếu anh T4 có mua xe thanh lý thì T mua giúp với giá rẻ và T cam kết từ 01 đến 02 tháng sau khi chuyển tiền sẽ nhận được xe, giấy tờ xe hợp lệ. Sau đó T chụp ảnh, quay phim
các xe ô tô, xe mô tô trong bãi xe tạm giữ và xe mô tô của cán bộ chiến sĩ trong khuôn viên của Công an huyện L gửi cho anh T4 xem rồi đưa ra giá từng loại xe. Anh T4 tưởng thật nên đã đồng ý mua 37 xe ô tô và 50 xe mô tô. Từ ngày 20/2/2023 đến ngày 25/4/2023, anh T4 đã chuyển số tiền 3.471.900.000 đồng vào tài khoản số 0401001407153 của T mở tại ngân hàng V. Đồng thời, T gửi hình ảnh các giấy đăng ký xe giả và quyết định giao xe giả cho anh T4 xem để làm tin. Sau khi biết bị T lừa, nên anh T4 đòi lại tiền thì T đã trả lại cho anh T4 số tiền 5.000.000 đồng. Còn lại số tiền 3.466.900.000 đồng, T đã sử dụng tiêu xài và đánh bạc hết.
Vụ thứ 5: Vào ngày 7/3/2023, Phạm Quang T nói với ông Nguyễn Tiến B1, sinh năm 1969, nơi thường trú: khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai rằng: Công an xã T và Công an huyện L đang thanh lý xe ô tô và xe máy nếu ông B1 mua xe thanh lý thì T mua giúp với giá rẻ và T cam kết từ 01 đến 02 tháng sau khi chuyển tiền sẽ nhận được xe, giấy tờ xe hợp lệ. T chụp ảnh, quay phim các xe ô tô, xe mô tô trong bãi xe tạm giữ và xe mô tô của cán bộ chiến sĩ trong khuôn viên của Công an huyện L gửi cho ông B1 xem và đưa ra giá từng loại xe. Ông B1 tưởng thật nên đồng ý mua 03 xe ô tô và 12 xe mô tô. Từ ngày 7/3/2023 đến ngày 04/4/2023, ông B1 đã đưa tiền mặt và chuyển tiền vào tài khoản số 0401001407153 của T mở tại ngân hàng V với tổng số tiền là 402.000.000 đồng. Đồng thời, T gửi hình ảnh các giấy đăng ký xe giả và quyết định giao xe giả cho ông B1 xem để làm tin. Ông B1 đợi nhưng không thấy T bàn giao xe nên đòi tiền lại nhưng T vẫn không trả. Số tiền chiếm đoạt được của ông B1 thì T đã sử dụng tiêu xài và đánh bạc hết.
Sau khi bị Phạm Quang T chiếm đoạt tiền và không trả lại nên các bị hại đã làm đơn tố cáo T gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Đến ngày 10/6/2023, Phạm Quang T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã khởi tố đối với Phạm Quang T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” để điều tra, xử lý.
Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, Phạm Quang T đã viết, ký vào các giấy tờ tài liệu thể hiện việc nhận tiền giúp mua xe thanh lý cho các bị hại. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết và dấu vân tay trên các tài liệu này. Tại Bản kết luận giám định số 2737/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:
- Chữ ký và chữ viết mang tên Phạm Quang T trên các tài liệu mẫu cần giám định so với chữ ký và chữ viết mang tên Phạm Quang T trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ viết trên các tài liệu mẫu cần giám định so với chữ viết trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người viết ra.
- Các điểm chỉ vân tay mang tên Phạm Quang T trên các tài liệu mẫu cần giám định so với điểm chỉ vân tay ngón trỏ trái và ngón trỏ phải trên tài liệu mẫu so sánh là điểm chỉ vân tay do cùng một người in ra.
Vật chứng, tài liệu chứng cứ thu giữ:
- 01 Giấy cam kết không đề ngày do Phạm Quang T viết có nội dung nhận của bà Võ Thị Phương L số tiền 1.595.800.000 đồng để mua xe thanh lý. (Lưu hồ sơ vụ án).
- 01 Giấy đặt cọc mua xe máy đề ngày 07/03/2023 có nội dung ông Nguyễn Tiến B1 đặt cọc tiền cho Phạm Quang T để mua xe mô tô. (Lưu hồ sơ vụ án).
- 01 Giấy đặt cọc mua xe ô tô đề ngày 08/03/2023 có nội dung Nguyễn Tiến B1 đặt cọc tiền cho Phạm Quang T để mua xe ô tô. (Lưu hồ sơ vụ án).
- 01 Giấy nhận làm xe thanh lý của Công an huyện L và Công an tỉnh Đ năm 2023 đề ngày 29/4/2023 do Phạm Quang T viết có nội dung giới thiệu cho ông Phạm Thành T4 mua xe ô tô và mô tô thanh lý của Công an huyện L và Công an tỉnh Đ. (Lưu hồ sơ vụ án).
- 01 Giấy nhận tiền lo lô xe thanh lý ở Công an huyện L và Công an tỉnh Đ đề ngày 02/5/2023 do Phạm Quang T viết có nội dung nhận tiền của ông Phạm Thành T4 từ ngày 20/02/2023 đến ngày 29/4/2023 để lo lô xe ô tô xe máy thanh lý tại Công an huyện L và Công an tỉnh Đ. (Lưu hồ sơ vụ án).
- 01 Giấy nhận tiền đề năm 2022 có nội dung Phạm Quang T nhận tiền của ông Nguyễn Minh T3. (Lưu hồ sơ vụ án).
- 01 Giấy nhận tiền đề ngày 04/12/2022 có nội dung Phạm Quang T nhận tiền của ông Nguyễn Minh T3. (Lưu hồ sơ vụ án).
- 01 Biên bản thỏa thuận ngày 11/4/2023 về việc trả lại tiền gốc và chịu lãi suất do không thực hiện nghĩa vụ giao xe, bên A: ông Nguyễn Minh T3, bên B: ông Phạm Quang T. (Lưu hồ sơ vụ án).
- 01 điện thoại di động có ghi chữ Iphone 6S màu hồng của bị cáo Phạm Quang T sử dụng vào việc phạm tội.
* Tại Cáo trạng số: 138/CT-VKS-P2 ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố Phạm Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c, g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo T mức án từ 16 (mười sáu) đến 18 (mười tám) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho các bị hại theo quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động có ghi chữ Iphone 6S màu hồng của bị cáo Phạm Quang T sử dụng vào việc phạm tội
* Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo T: Thống nhất về tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đầu thú; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã giúp cho cơ quan điều tra sớm kết thúc vụ án; phạm tội lần đầu; gia đình bị cáo có công cách mạng và ngay cả bị cáo cũng có thành tích trong công tác; hiện bị cáo có người mẹ già và có người em không có nghề nghiệp. Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt quá nặng đối với hành vi phạm tội của bị cáo. Với nhiều tình tiết giảm nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố.
- Ý kiến của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận bổ sung gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm được trở lại cộng đồng xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[2] Về tội danh và áp dụng điều luật:
Trong quá trình điều tra, tuy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến tháng 6/2023, do cần tiền để đánh bạc và tiêu xài cá nhân nên Phạm Quang T đã lợi dụng danh nghĩa là Cán bộ Công an xã T; Cán bộ Đội Cảnh sát Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an huyện L để đưa ra thông tin gian dối là có khả năng giúp mua được các xe ô tô, mô tô thanh lý năm 2022, 2023 của Công an xã T, Công an huyện L và Công an tỉnh Đ. Để tạo
lòng tin, T chụp ảnh, quay phim các xe ô tô, mô tô trong khuôn viên Công an huyện L gửi cho những người mua xe qua Zalo và tự đưa ra giá của từng chiếc xe rồi yêu cầu người mua chuyển tiền. Do tin tưởng T là cán bộ Công an nên các bị hại đã tin tưởng chuyển tiền cho T để mua xe thanh lý và bị T chiếm đoạt, cụ thể như sau: Chiếm đoạt của anh Nguyễn Minh T3 và anh Nguyễn Quốc M số tiền 946.000.000 đồng, chị Võ Thị Phương L số tiền 1.725.800.000 đồng, anh Phạm Thành T4 số tiền 3.471.900.000 đồng, ông Nguyễn Tiến B1 số tiền 402.000.000 đồng và anh Nguyễn Văn B số tiền 315.700.000 đồng. Tổng cộng Phạm Quang T đã chiếm đoạt của các bị hại số tiền 6.861.400.000 đồng. T đã trả cho anh Phạm Thành T4 số tiền 5.000.000 đồng; chị Võ Thị Phương L số tiền 132.500.000 đồng.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, các chứng cứ được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Phạm Quang T đã phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân tỉnh Đồng Nai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo là cán bộ Công an, có đủ nhận thức và biết rõ hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lợi dụng sự tin tưởng của bị hại để đưa ra thông tin gian dối chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” và “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm c, g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; bị cáo có ông bà nội là Phạm K và bà Hoàng Thị T8 tham gia kháng chiến chống Mỹ và được tặng thưởng Huân chương; bị cáo có thành tích trong công tác nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về bồi thường dân sự: Anh Nguyễn Minh T3 và anh Nguyễn Quốc M yêu cầu bị cáo trả lại 946.000.000 đồng cho anh T3; chị Võ Thị Phương L yêu cầu bị cáo trả lại 1.593.300.000 đồng; anh Phạm Thành T4 yêu cầu bị cáo trả lại 3.466.900.000 đồng; anh Nguyễn Tiến B1 yêu cầu bị cáo trả lại 402.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn B yêu cầu bị cáo trả lại 315.700.000 đồng.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đồng ý trả lại số tiền cho các bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo, buộc bị cáo phải trả lại cho anh
Nguyễn Minh T3 946.000.000 đồng, chị Võ Thị Phương L 1.593.300.000 đồng, anh Phạm Thành T4 3.466.900.000 đồng, anh Nguyễn Tiến B1 402.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn B 315.700.000 đồng.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động có ghi chữ Iphone 6S màu hồng của bị cáo Phạm Quang T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về những vấn đề khác liên quan:
Đối với hành vi của Phạm Quang T làm giả Quyết định giao xe hóa giá nhà nước số: 14/QĐ-GXHG đề ngày 30/11/2022, liên hệ tài khoản Z “L”, tài khoản facebook “Kiên N” để làm giả Quyết định giao xe do Công an tỉnh Đ thanh lý, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, mô tô và đánh bạc trên mạng. Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC01) Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền là đúng quy định pháp luật.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[10] Ý kiến của Luật sự bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận phần phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Xử phạt: Phạm Quang T 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 579, 580 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo trả lại cho: anh Nguyễn Minh T3 946.000.000 đồng (chín trăm bốn mươi sáu triệu đồng); chị Võ Thị Phương L 1.593.300.000 đồng (một tỷ năm trăm chín mươi ba triệu ba trăm nghìn đồng); anh Phạm Thành T4 3.466.900.000 đồng (ba tỷ bốn trăm sáu mươi sáu triệu chín trăm nghìn đồng); ông Nguyễn Tiến B1 402.000.000 đồng (bốn trăm lẻ hai triệu đồng); anh Nguyễn Văn B 315.700.000 đồng (ba trăm mười lăm triệu bảy trăm nghìn đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động có ghi chữ Iphone 6S, màu hồng.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/6/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai)
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 114.723.900 đồng (một trăm mười bốn triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn chín trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo; Bị hại anh Nguyễn Văn B, anh Nguyễn Quốc M, chị Võ Thị Phương L, anh Phạm Thành T4 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Minh T3, ông Nguyễn Tiến B1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 191/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 191/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Quang T phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
