TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 191/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18-12-2023.
“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hóa và bà Hoàng Thị Diễm Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Nhất Nam – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân T – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QÐST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Mai C; sinh năm 1978; Nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng tự nguyện kết hôn và tiến hành đi đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 23/5/2008. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung tại nhà bố mẹ của bà M một thời gian sau đó ra ở nhà riêng. Quá trình chúng sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian dài, sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông C không chịu đi làm, suốt ngày ở nhà nên kinh tế gia đình gặp khó khăn nên phải bán nhà để chi trả tiền sinh hoạt. Cuộc sống về kinh tế khó khăn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau không thể tự hòa giải, đôi lúc dẫn đến xung đột khiến cuộc sống hôn nhân bế tắc. Lâu dần vợ chồng chung sống không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng phai nhạt. Nay bà M đã hết tình cảm với chồng nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông C.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị M xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên là Mai Trọng T1, sinh ngày 28/02/2006 và Mai Trọng T2, sinh ngày 14/5/2012. Sau khi ly hôn, bà M có nguyện vọng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con là Mai Trọng T1 và Mai Trọng T2 cho đến lúc trưởng thành, đủ 18 tuổi. Bà M không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị M xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/8/2023 và quá trình làm việc bị đơn ông Mai C trình bày với nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng tự nguyện kết hôn và tiến hành đi đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 23/5/2008. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung và làm việc tại tổ dân phố V, thị trấn P. Vợ chồng mâu thuẫn là do cả hai không hợp tính cách của nhau, thường xuyên cãi nhau không thể tự hòa giải. Ngoài ra đời sống kinh tế khó khăn dẫn đến vợ không muốn tiếp tục chung sống với ông. Ông C vẫn còn tình cảm với vợ nên yêu cầu Tòa án hòa giải để hai vợ chồng về sống đoàn tụ.
Về con chung: Ông Mai C xác nhận vợ chồng có 02 con chung tên là Mai Trọng T1, sinh ngày 28/02/2006 và Mai Trọng T2, sinh ngày 14/5/2012. Nếu trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông Mai C cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà M cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông C xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hòa giải, xác minh tại địa phương, thực hiện các thủ tục đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành tống đạt quyết định xét xử và giấy triệu tập và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần 2.
Tại biên bản xác minh ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế như sau: Ông Mai C và bà Nguyễn Thị M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P vào ngày 23/5/2008. Giữa vợ chồng ông C và bà M có mâu thuẫn hay không, mâu thuẫn gì thì địa phương không nắm rõ. Hiện tại ông C và bà M không còn sống chung, ông C ở tại nhà chung, còn bà M sống tại nhà của mẹ ruột. Giữa bà M và ông C có 02 con chung là Mai Trọng T1 và Mai Trọng T2 và hiện đang sống với ai thì địa phương không nắm rõ được. Về tài sản chung và nợ chung của ông C và bà M địa phương không rõ.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa và không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Mai C.
Về con chung: Giao con chung là Mai Trọng T2, sinh ngày 14/5/2012 cho bà M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung là Mai Trọng T1, sinh ngày 28/02/2006 cho ông C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến lúc trưởng thành, đủ 18 tuổi. Hai bên không đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị M và ông Mai C xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- - Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và bị đơn ông Mai C có nơi cư tại: Tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- - Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến tham gia tố tụng tại phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị M và ông Mai C xác nhận vợ chồng chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, nên được công nhận hôn nhân hợp pháp.
[3] Xét về yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị M, thấy rằng: Tại kết quả xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ tại địa phương, lời khai của nguyên đơn, bị đơn đã có cơ sở xác định quá trình chung sống giữa bà M và ông C có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cãi nhau không thể tự hòa giải. Ngoài ra kinh tế gia đình khó khăn nên mâu thuẫn vợ chồng cũmg xuất phát từ đó. Trong quá trình giải quyết vụ án thì bà M và ông C bắt đầu sống ly thân và hiện không còn sống chung, mỗi người ở mỗi nơi, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau. Bản thân ông Mai C cũng công nhận vợ chồng có mâu thuẫn và thường xuyên cãi nhau không thể tự hoà giải. Chứng tỏ tình cảm giữa bà M và ông C đã rạn nứt. Từ những nhận định nêu trên, xét thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa bà M và ông C đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân
không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử chấp nhận xử cho bà Nguyễn Thị M được ly hôn với ông Mai C là phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với yêu cầu đoàn tụ của ông Mai C cùng với bà Nguyễn Thị M không được bà M chấp nhận, bản thân ông Mai C không cố gắng tìm cách để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Tòa án triệu tập hợp lệ ông C đến lần thứ hai để xét xử nhưng ông Mai C đều vắng mặt, chứng tỏ ông Mai C đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân giữa ông và bà M, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận yêu cầu đoàn tụ của ông Mai C.
[4] Về con chung và tiền cấp dưỡng nuôi con: Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và cũng có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Mai Trọng T2 đến tuổi trưởng thành và đồng ý giao cháu Mai Trọng T1 cho ông Mai C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi cũng như phù hợp với nguyện vọng các con chung cần chấp nhận giao con chung là Mai Trọng T2 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc trưởng thành, đủ 18 tuổi và giao con chung là Mai Trọng T1 cho ông Mai C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc trưởng thành, đủ 18 tuổi như đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tiền cấp dưỡng nuôi con không có ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị M và ông Mai C xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản Lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với ông Mai C về việc " Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con".
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M được ly hôn ông Mai C, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Giao con chung là Mai Trọng T2, sinh ngày 14/5/2012 cho bà Nguyễn Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc trưởng thành, đủ 18 tuổi. Giao con chung là Mai Trọng T1, sinh ngày 29/02/2006 cho ông Mai C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc trưởng thành, đủ 18 tuổi. Cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Hai bên không đóng tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị M và ông Mai C xác nhận không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà M đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng số 0007510 ngày 19/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.
[5] Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành bản án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |
Bản án số 191/2023/HNGĐ-ST ngày 18/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 191/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp xin ly hôn
