|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 191/2024/DS-ST
Ngày: 18/6/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Bành Quốc Trung.
- Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim T- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gò Công xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 255/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 112/2024/QĐST-DS NGÀY 22/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Hoàng Thế H, sinh năm: 1970; Có mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1978; Vắng mặt.
- Bà Đỗ Thị Thu T1, sinh năm 1977; Có mặt
- Bà Huỳnh Kim N, sinh năm 1949; Vắng mặt.
Địa chỉ: Số 15/13 Trần Hưng Đạo, phường 6, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
Chổ ở: Số 142 Trương Định, phường 2, thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Số A P, khu phố H, phường B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Trước tháng 9/2014 ông Nguyễn Văn V, bà Huỳnh Kim N, bà Đỗ Thị Phương T2 có vay tiền của tôi nhiều lần, thoả thuận lãi suất 2%/ tháng, thời gian trả báo trước 03 tháng. Đến ngày 18/9/2014 tổng kết nợ là 1.000.000.000 đồng có làm giấy nợ và hứa khi nào nhận tiền đền bù dự án cao tốc Trung Lương trả, phần còn lại sẽ trả trong vòng 01 năm. Tuy nhiên, đến nay ông V, bà N, bà T2 cũng không thực hiện. Đến ngày 27/10/2023 bà T2 có trả được 300.000.000 đồng, hiện vẫn còn nợ 700.000.000 đồng. Nay ông H yêu cầu bà T2 có nghĩa vụ trả tiếp 75.000.000 đồng, ông V trả 375.000.000 đồng, bà N trả 250.000.000 đồng; Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật, ông không yêu cầu tính lãi.
* Theo bà Đỗ Thị Thu T1 là bị đơn trình bày:
Giấy mượn tiền ghi ngày 18/9/2014 là do ông V, bà T1 và bà N cùng ký tên, ông V là chồng bà, còn bà N là mẹ ruột của ông V. Ông V vay tiền của ông H cho mẹ ruột làm ăn đến khi vỡ nợ thì kêu bà cùng ký tên nhận nợ. Hiện tại bà và ông V đã ly hôn, ngày 27/10/2023 cá nhân bà đã trả được cho ông H 300.000.000 đồng, hiện tại bà không còn khả năng thanh toán cho ông H nữa nên tuỳ Toà án quyết định theo pháp luật.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn V và bà Huỳnh Kim N mặc dù được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ nhưng không nộp cho Tòa án Bản tự khai cũng như văn bản ghi ý kiến của mình. Đồng thời, Tòa án đã tiến hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông V và bà N nhưng do ông V và bà N vắng mặt nên Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt ông V, bà N và không hòa giải vụ án được.
* Tại phiên toà: Ông H yêu cầu bà N và ông V cùng có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền 700.000.000 đồng một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Rút yêu cầu khởi kiện bà T1 trả 75.000.000 đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công phát biểu:
Trong quá trình thụ lý và xét xử vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ quy định tại Điều 463, 466, 468, 375, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Văn V cùng có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Hoàng Thế H số tiền 700.000.000 đồng một lần khi án có hiệu lực pháp luật. Đình chỉ một phần yêu cầu bà Đỗ Thị Thu T1 trả 75.000.000 đồng.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Gò Công.
[2] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn V và bà Huỳnh Kim N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Hoàng Thế H yêu cầu bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Văn V cùng có nghĩa vụ trả số tiền 700.000.000 đồng một lần khi án có hiệu lực pháp luật có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Bởi lẽ, bà Huỳnh Kim N, ông Nguyễn Văn V và bà Đỗ Thị Thu T1 có ký giấy mượn tiền của ông Đỗ Hoàng Thế H vào ngày 18/9/2014 với nội dung “Tôi tên Nguyễn Văn V, SN 1978...vợ tôi: Đỗ Thị Thu T1, SN 1977 Mẹ ruột: Huỳnh Kim N, SN: 1949. Tôi còn nợ anh Đỗ Hoàng Thế H đến ngày 17/9/2014 số tiền 1 tỷ đồng. Tôi và mẹ ruột cam kết khi dự án đường C- Cầu C đền bù giải toả trả cho anh H, tôi cam kết thực hiện đúng các điều trên”. Sau khi ký vào giấy mượn tiền nêu trên đến nay ông V và bà N không thực hiện việc trả tiền cho ông H như đã cam kết. Bà T1 đã trả cho ông H 300.000.000 đồng vào ngày 27/10/2023 nên ông H rút yêu cầu khởi kiện bà T1 cùng có nghĩa vụ trả nợ là phù hợp. Đối với bà N và ông V được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo kết quả phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải nhưng cả hai không đến Toà án, không có văn bản phản hồi về khoảng nợ mà ông H đòi cho thấy số nợ trên là có thật. Trong giấy mượn tiền không có ghi số nợ cụ thể của từng người, ông V và bà N cam kết trả nợ cho ông H. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận Toà bộ yêu cầu khởi kiện của ông H về việc đòi bà N và ông V cùng có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền 700.000.000 đồng một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 5; khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 463; 466; Điều 468; Điều 375; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Đỗ Hoàng Thế H.
1.1/ Bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Văn V cùng có nghĩa vụ trả cho ông Đỗ Hoàng Thế H số tiền 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng) một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Đến hạn trả tiền nếu bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Văn V chậm thi hành khoản tiền nêu trên, thì bà N và ông V còn phải nộp khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 cho đến khi hoàn tất số nợ.
1.2/ Đình chỉ yêu cầu của ông Đỗ Hoàng Thế H về việc yêu cầu bà Đỗ Thị Thu T1 trả số tiền 75.000.000 đồng.
2/ Về án phí: Bà Huỳnh Kim N và ông Nguyễn Văn V phải chịu 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho ông Đỗ Hoàng Thế H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.000.000 đồng (Hai mươi một triệu đồng) theo biên lai số 0027677 ngày 26/010/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Gò Công (Nay là thành phố G).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án dân sự, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
|
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
*Nơi nhận:
|
LÊ THỊ HẰNG |
Bản án số 191/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 191/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ĐÒI TIỀN VAY
