|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 191/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18-6-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Mai Khanh
Ông Nguyễn Hồ Cảnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương Ly, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Hải; Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 407/2023/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị L, sinh năm: 1999;
Địa chỉ: Xóm B, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm: 1990; Địa chỉ: Xóm E, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế H, sinh năm: 1991;
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm A, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An.
Hiện đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Đ. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thế K, sinh năm: 1966 và bà Phan Thị Q, sinh năm: 1967; Địa chỉ: Xóm A, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong "Đơn khởi kiện" ngày 09/8/2023; Bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị L trình bày: Chị và anh Nguyễn Thế H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 03 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì anh H đi xuất khẩu lao động tại CHLB Đ từ năm 2019 cho đến nay. Do ở xa nhau nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do cả hai không còn tin tưởng nhau, không tìm được tiếng nói chung. Đến nay, vợ chồng không còn quan tâm lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thế H.
Về con chung: Chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Thế H có 1 con chung là cháu Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2018. Năm 2019 anh H đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, chị L là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Đến tháng 3 năm 2021 chị Lê đ xuất khẩu lao động tại Đài Loan; cháu Quỳnh A được giao cho ông bà nội là ông Nguyễn Thế K và bà Phan Thị Q; địa chỉ: Xóm A, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An chăm sóc nuôi dưỡng. Hiện nay chị L đã về Việt Nam, chị L có nguyện vọng Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê c yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bị đơn là anh Nguyễn Thế H vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 28569/QLXNC- P3 ngày 30/11/2023 của Cục Q1 – Bộ C thì: Trường hợp Nguyễn Thế H, sinh ngày 10/10/1991 tại Nghệ An; CCCD số [...]; khai hộ khẩu thường trú tại: xóm B, V, Y, Nghệ An; đã xuất nhập cảnh 05 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu số C5074892 để xuất cảnh ngày 19/9/2019 qua cửa khẩu N1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, sau khi thụ lý, Tòa án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, công văn đề nghị gia đình anh H cung cấp thông tin, địa chỉ của anh H ở nước ngoài, quyết định đưa vụ án ra xét xử ... nhưng anh H vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hòa giải được.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 24 tháng 01 năm 2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Thế K và bà Phan Thị Q trình bày: Ông K, bà Q là bố mẹ đẻ của anh Nguyễn Thế H; sinh năm 1991; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm A, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Chị L và anh H kết hôn với nhau vào năm 2018 và đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn anh H, chị L sinh sống cùng trong vùng đất với ông bà được một năm. Đến năm 2019, anh H có làm hồ sơ đi xuất khẩu lao động, làm việc tại R, thời hạn 3 năm. Sau khi hết hạn hợp đồng thì anh H bỏ ra ngoài làm việc tại Đức, địa chỉ cụ thể chỗ nào của nước Đ thì ông bà không được biết. Hiện nay anh H đang sinh sống và lao động tại CHLB Đức, anh H vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình thông qua ứng dụng mạng xã hội Facebook. Ông bà đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án tuy nhiên, anh H không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh H ở CHLB Đ cho ông bà nên ông bà không thể cung cấp địa chỉ cụ thể của anh H ở Đức cho Tòa án. Ông bà đã thông báo về việc chị L khởi kiện ly hôn với anh H cho anh H được biết, anh H có ý kiến là đồng ý với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị L. Về con chung thì chị L và anh H có 01 người con chung là Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 2018. Cháu Quỳnh A ở cùng với ông bà từ năm 2021 đến nay. Nay chị L và anh H ly hôn thì anh H đồng ý giao con chung Nguyễn Thị Quỳnh A cho chị L chăm sóc nuôi dưỡng nếu sau này chị L không kết hôn với ai khác nữa, nếu chị Lê kết h với người khác thì anh H không đồng ý giao con cho chị Lê n. Ông K và bà Q không yêu cầu chị L và anh H trả tiền công chăm sóc nuôi dưỡng cháu Quỳnh A từ trước đến nay. Tuy nhiên, sau khi Toà án lập biên bản ông K, bà Q đã đọc lại biên bản, xác nhận đúng ý kiến của mình nhưng không đồng ý ký biên bản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Bùi Thị L được ly hôn anh Nguyễn Thế H.
- + Về con chung: giao con chung Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày: 26/12/2018 cho chị Bùi Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do chị L chưa có yêu cầu.
- + Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- + Về án phí: Nguyên đơn chị Bùi Thị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 09/8/2023, chị Bùi Thị L có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Nguyễn Thế H. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị L, anh H đều có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An nhưng từ khoảng năm 2019 thì anh H đã đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài, hiện nay đang ở Cộng hoà liên bang Đ chưa về nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Bùi Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn. Đối với bị đơn anh Nguyễn Thế H, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, anh H hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu tại xã Viên Thành, huyện Y, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Cộng hòa liên bang Đ1, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ nơi cư trú hiện nay. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ anh H ở nước ngoài nhưng theo ông Nguyễn Thế K, bà Phan Thị Q thì anh H tuy vẫn có liên hệ với gia đình và đã biết việc Toà án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị L nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Thế H.
[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị L:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Thế H được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận và đã có một đứa con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được bền vững do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng sống xa nhau thời gian dài nên tình cảm ngày càng mất mát. Quá trình giải quyết vụ án, anh H lại không có mặt tại Tòa án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài nhưng đã ly thân nhiều năm nay mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị L cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị L yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều trình bày: Vợ chồng chị L, anh H có một con chung là cháu Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày: 26/12/2018. Nay ly hôn, chị Lê x được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy yêu cầu được nuôi con của chị Lê l hoàn toàn chính đáng. Mặt khác, anh H hiện nay đang ở nước ngoài, ông K, bà Q cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh H nên cần giao cháu Quỳnh A cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên. Chị Lê x được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Quỳnh A nhưng không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị L không yêu cầu Toà án giải quyết, anh H cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
[3]. Về án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Lê .
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Thế H.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh ngày: 16/12/2018 cho chị Bùi Thị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Bùi Thị L không yêu cầu và anh Nguyễn Thế H cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.
Anh Nguyễn Thế H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Nguyễn Thế H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Thị L và anh Nguyễn Thế H không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Bùi Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001318 ngày 14/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: chị Bùi Thị L, ông Nguyễn Thế K, bà Phan Thị Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Thế H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 191/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 191/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị L và anh H
