Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/6/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Linh Thu Hồng
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Năm
  • Ông Trần Văn Tam
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 549/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024; giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn Bà Nguyễn Thị Thu L, sinh năm 1981;
  • Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  • - Bị đơn: Ông Bùi Ngọc T, sinh năm 1971;
  • Địa chỉ: Số C, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  • (bà L, ông T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27 tháng 02 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu L trình bày:

Bà và ông Bùi Ngọc T có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vào năm 2000 được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 28/12/2000, do cả hai đều tự nguyện.

Trong thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng thời gian gần đây, vợ chồng xảy ra những mâu thuẫn về mặt tình cảm do quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất nên thường xuyên cãi vã, không còn tôn trọng lẫn nhau, bà và ông T đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông T, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Bà và ông T có 03 con chung, cháu Bùi Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/11/2001; cháu Bùi Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 06/6/2003 và cháu Bùi Ngọc Yến V, sinh ngày 03/4/2012. Cháu T1 và cháu L1 đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án xem xét, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V.

Tại đơn khởi kiện ngày 27/02/2024, bà yêu cầu ông Trung cấp d nuôi cháu V mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng), nhưng nay bà xác định không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi cháu V.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 09/4/2024, bà Nguyễn Thị Thu L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Theo bản tự khai ngày 09 tháng 4 năm 2024 bị đơn ông Bùi Ngọc T trình bày:

Ông và Nguyễn Thị Thu L tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2000 tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Nhưng thời gian gần đây, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn về mặt tình cảm, do quan điểm sống của hai vợ chồng không đồng nhất nên hay xảy ra xung đột và không còn tôn trọng lẫn nhau. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Vì vậy, đời sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc dẫn đến tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn và không thể tiếp tục sống chung với nhau được. Bà L đã làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xem xét, giải quyết việc ly hôn, ông đồng ý ly hôn, chấm dứt mối quan hệ vợ chồng với bà Nguyễn Thị Thu L.

Về con chung: Ông và bà L có 03 con chung: cháu Bùi Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/11/2001; cháu Bùi Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 06/6/2003 và cháu Bùi Ngọc Yến V, sinh ngày 03/4/2012. Sau ly hôn, ông đồng ý giao cháu Bùi Ngọc Yến V cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay, ông bị bệnh nên gặp nhiều khó khăn trong lao động để tạo ra thu nhập nên tạm thời ông không cấp dưỡng nuôi con. Cháu T1 và cháu L1 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 09/4/2024, ông Bùi Ngọc T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Ý kiến Kiểm sát viên tại phiên tòa:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án là đúng pháp luật. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý nguyên đơn và bị đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án để cung cấp lời khai, thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu L. Xét cho bà L được ly hôn với ông T. Về con chung: Cháu Bùi Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/11/2001 và cháu Bùi Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 06/6/2003 đã trưởng thành nên không xem xét. Giao cháu Bùi Ngọc Yến V, sinh ngày 03/4/2012 cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không xét. Án phí dân sự sơ thẩm bà L phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:
    1. Về tư cách tố tụng và quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị Thu L khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Bùi Ngọc T và đề nghị được nuôi dưỡng con chung. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định bà Nguyễn Thị Thu L là nguyên đơn, ông Bùi Ngọc T là bị đơn. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.
    2. Về vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn đều được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tuy nhiên các đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T tự nguyện xây dựng gia đình với nhau vào năm 2000, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Giấy chứng nhận kết hôn số 17 ngày 28/12/2000) nên được xem là hôn nhân hợp pháp.
  3. Bà L yêu cầu giải quyết ly hôn ông T cũng đồng ý thuận tình.

    Xét thấy, bà L, ông T kết hôn năm 2000, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của bà L, xử cho bà L được ly hôn ông T.

  4. Về con chung: Cháu Bùi Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/11/2001; cháu Bùi Nguyễn Thanh L1, sinh ngày 06/6/2003 đã trưởng thành nên bà L, ông T không yêu cầu Tòa án xem xét. Cháu Bùi Ngọc Yến V, sinh ngày 03/4/2012 đã trên 07 tuổi, qua tham khảo ý kiến cháu V có nguyện vọng sống với bà L, cả hai cũng thống nhất thỏa thuận việc nuôi con nên cần căn cứ các Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao cháu V cho bà L trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng.
  5. Bà L nuôi cháu V không yêu cầu ông Trung cấp d nên không xét.

  6. Về tài sản chung: Bà L và ông T không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.
  7. Về nợ chung: Bà L và ông T đều khai không có nên không xét.
  8. Về án phí: Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
  9. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 89 Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu L, xử cho bà Nguyễn Thị Thu L được ly hôn ông Bùi Ngọc T.
  2. Về con chung: Giao cháu Bùi Ngọc Yến V, sinh ngày 03/4/2012 cho bà Nguyễn Thị Thu L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
  3. Tạm thời, ông Bùi Ngọc T không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn ông Bùi Ngọc T vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Ông T có quyền thăm nom con, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

  4. Tài sản chung, nợ chung: Không xét.
  5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002671 ngày 06/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, bà L đã nộp đủ án phí.
  6. Bà Nguyễn Thị Thu L, ông Bùi Ngọc T được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND TP Biên Hòa (1);
  • - Chi cục THADS TP Biên Hòa (1);
  • - UBND xã (phường) nơi đăng ký kết hôn (1);
  • - Đương sự (2);
  • - Lưu (3).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Linh Thu Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 191/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu Liễu ly hôn với ông Bùi Ngọc Trung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger