Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2024/DSPT

Ngày: 15 - 5 - 2024

V/v “tranh chấp về thừa kế tài sản"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quyến;
Ông Lương Phước Đại.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thư – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 13 và 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 484/2023/TLPT-DS ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 179/2023/DS - ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Cái Răng, bị các nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 96/2024/QĐPT-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 135/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Ông Lê Thanh H, sinh năm 1970; địa chỉ: Số A khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  2. Ông Lê Thanh P, sinh năm 1973; địa chỉ: Số C Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
  3. Người đại diện ủy quyền cho ông P gồm: Ông Trần Văn Á, ông Nguyễn Sỹ B; cùng địa chỉ: Số A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P là bà Phan Nguyễn Hoa T, sinh năm 1994 là Luật sư thuộc Văn phòng L2; địa chỉ: A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

  4. Bà Lê Thị Thu S, sinh năm 1978; địa chỉ: Số B, tổ A, ấp M, xã N, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
  1. Bị đơn: Bà Lê Thị Thu T1, sinh năm 1976; (vắng mặt)
  2. Người đại diện ủy quyền hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1972; địa chỉ: Số C Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1972; địa chỉ: Số C Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
  4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông L: Bà Nguyễn Hồng N, Luật sư Văn phòng L3; địa chỉ: Số B N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

  5. Người kháng cáo: Ông Lê Thanh H, ông Lê Thanh P, bà Lê Thị Thu S, bà Lê Thị Thu T1, ông Nguyễn Văn L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và đại diện ủy quyền cho nguyên đơn – ông Lê Thanh P trình bày:

Nguồn gốc phần di sản thừa kế các bên đang tranh chấp gồm: Phần đất và tài sản trên đất tại thửa số 81; tờ bản đồ số 25 và phần đất cùng cây trồng trên đất tại thửa số 142, 159, 1020; tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ có nguồn gốc từ cha mẹ của nguyên đơn và bị đơn. Cha là ông Lê Văn M chết ngày 25/02/2021 và mẹ bà Lê Thị B1, chết ngày 13/11/2003 và không để lại di chúc. Sinh thời, ông M và bà B1 có 04 người con gồm: 03 nguyên đơn đang khởi kiện là ông Lê Thanh H, ông Lê Thanh P, bà Lê Thị Thu S và bị đơn bà Lê Thị Thu T1. Thời điểm ông M và bà B1 chết thì cha mẹ của họ đã chết trước đó, sinh thời ông M và bà Ba k nhận ai làm cha mẹ nuôi hoặc con nuôi.

Hiện nay, đối với di sản thừa kế đang tranh chấp gồm phần nhà, đất và tài sản trên đất thì phía bị đơn bà Lê Thị Thu T1 là người đang quản lý, sử dụng. Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung yêu cầu Toà án giải quyết các vấn đề như sau:

Đối với thửa đất số 81, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ tại vị trí A và phần nhà kho trên đất thì ông P yêu cầu nhận phần đất và tài sản trên đất có tổng diện tích 183,0m² theo tại bản trích đo địa chính số 132/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C đã lập. Trong trường hợp diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận lớn hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì đồng ý trả lại giá trị cho những người đồng thừa kế còn lại. Nếu diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận nhỏ hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì yêu cầu các đồng thừa kế trả lại giá trị cho ông P.

Đối với phần đất thuộc thửa 83, có diện tích 123,2m² theo bản trích đo địa chính số 132/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C thì yêu cầu nhận toàn bộ phần đất này và không đồng ý trả giá trị cho những đồng thừa kế còn lại.

Đối với các phần đất tại thửa 1020, 159,142 thì yêu cầu nhận phần đất và toàn bộ cây trồng trên đất vị trí D theo tại bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C. Trong trường hợp diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận lớn hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì đồng ý trả lại giá trị cho những người đồng thừa kế còn lại. Nếu diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận nhỏ hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì yêu cầu các đồng thừa kế trả lại giá trị cho ông P. Đối với phần đất ở tại vị trí D này thì không đồng ý trả lại giá trị, lý do trước đây bà S đã được ông M cho 150m² đất ở thuộc thửa 875, bà T1 được cho 200m² đất ở thuộc thửa 874, thì việc tặng cho là sau khi bà Lê Thị B1 chết nên việc tặng cho là không hợp lệ nên yêu cầu được nhận giá trị của hai phần đất này để khấu trừ vào phần đất mà nguyên đơn được nhận. Đối với phần đất tại vị trí e thì đồng ý cho các đồng thừa kế đồng sử dụng và nguyên đơn ông P là người được quản lý di sản thừa kế.

Phần trình bày của nguyên đơn - ông Lê Thanh H:

Nguồn gốc phần di sản thừa kế mà các bên đang tranh chấp có nguồn gốc từ cha mẹ của nguyên đơn và bị đơn. Cha là ông Lê Văn M chết ngày 25/02/2021 và mẹ bà Lê Thị B1, chết ngày 13/11/2003. Sinh thời, ông M và bà B1 có 04 người con gồm 03 nguyên đơn đang khởi kiện và bị đơn. Thời điểm, ông M và bà B1 chết thì cha mẹ của họ đã chết trước đó, sinh thời ông M và bà Ba k nhận ai làm cha mẹ nuôi hoặc con nuôi. Thời điểm ông M và bà B1 chết không để lại di chúc. Hiện nay, đối với di sản đang tranh chấp thì phía bị đơn là người đang quản lý, sử dụng.

Vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên nội dung hòa giải trước đó.

Yêu cầu nhận vị trí D tại bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C vì hiện nay chưa có nhà để ở. Đối với cây trồng trên đất thì cây trồng nằm trên phần đất của ai thì người đó được hưởng. Đối với phần đất mộ thì thống nhất không chia, ai nhận vị trí B thì quản lý luôn phần đất mộ. Đối với phần đất được nhận nhiều hơn phần di sản thừa kế thì đồng ý trả giá trị chênh lệch.

Yêu cầu nhận vị trí B tại bản trích đo địa chính số 132/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C và phần đất cặp rạch tại thửa 83 ai nhận thì trả lại giá trị cho ông.

Trong trường hợp diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận lớn hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì đồng ý trả lại giá trị cho những người đồng thừa kế còn lại. Nếu diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận nhỏ hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì yêu cầu các đồng thừa kế trả lại giá trị cho ông.

* Phần trình bày của nguyên đơn - bà Lê Thị Thu S:

Nguồn gốc phần di sản thừa kế các bên đang tranh chấp có nguồn gốc từ cha mẹ của nguyên đơn và bị đơn. Cha là ông Lê Văn M chết ngày 25/02/2021 và mẹ bà Lê Thị B1, chết ngày 13/11/2003. Sinh thời, ông M và bà B1 có 04 người con gồm 03 nguyên đơn đang khởi và bị đơn. Thời điểm ông M và bà B1 chết thì cha mẹ của họ đã chết trước đó, sinh thời ông M và bà Ba k nhận ai làm cha mẹ nuôi hoặc con nuôi. Thời điểm, ông M và bà B1 chết không để lại di chúc.

Hiện nay, đối với di sản tranh chấp thì phía bị đơn là người đang quản lý, sử dụng. Bị đơn và chồng bị đơn là ông Nguyễn Văn L đang sinh sống.

Vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung, giữ nguyên nội dung hòa giải trước đó.

Yêu cầu nhận phần đất và cây trồng trên đất vị trí A, thửa 142 tại bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C. Đối với cây trồng trên đất thì cây trồng nằm trên phần đất của ai thì người đó được hưởng. Đối với phần đất mộ tại vị trí e thì thống nhất không chia, ai nhận vị trí B thì quản lý luôn phần đất mộ.

Yêu cầu nhận vị trí A tại bản trích đo địa chính số 132/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C và phần đất cặp rạch chạy dài với phần sông tương ứng với phần đất phía trước mà nguyên đơn được nhận tại vị trí A này.

Trong trường hợp diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận lớn hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì đồng ý trả lại giá trị cho những người đồng thừa kế còn lại. Nếu diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận nhỏ hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì yêu cầu các đồng thừa kế trả lại giá trị cho bà.

Việc ông P yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Lê Thị B1 đối với thửa đất 875 mà bà đang đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà không đồng ý vì phần đất này là tài sản riêng của ông M và bà đã được ông M tặng cho riêng đúng theo quy định của pháp luật nên bà mới được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay.

Đối với việc ông P yêu cầu nhận vị trí e để quản lý và phần đất tại vị trí A nói trên thì bà không đồng ý.

* Phần trình bày của ông Nguyễn Văn L:

Nguồn gốc phần di sản thừa kế là quyền sử dụng đất các bên đang tranh chấp có nguồn gốc từ cha mẹ của nguyên đơn và bị đơn. Cha là ông Lê Văn M chết ngày 25/02/2021 và mẹ bà Lê Thị B1, chết ngày 13/11/2003. Sinh thời, ông M và bà B1 có 04 người con gồm 03 nguyên đơn đang khởi kiện và bị đơn. Thời điểm ông M và bà B1 chết thì cha mẹ của họ đã chết trước đó, sinh thời ông M và bà Ba k nhận ai làm cha mẹ nuôi hoặc con nuôi. Thời điểm ông M và bà B1 chết không để lại di chúc. Hiện nay, đối với di sản tranh chấp thì phía bị đơn là người đang quản lý, sử dụng và các giấy tờ thì bị đơn đang là người giữ bản chính.

Đồng ý chia phần đất là di sản của ông M và bà B1 để lại cho mỗi người con nhận ¼ hiện vật, bị đơn đề nghị nhận toàn bộ phần đất và thối lại giá trị phần đất cho các nguyên đơn, riêng đối với tài sản trên đất gồm: Nhà đang thờ ông bà và vợ chồng bị đơn đang sinh sống, nhà kho, hồ nuôi cá thì không đồng ý chia. Ngoài ra, yêu cầu các nguyên đơn trả giá trị tiền lên thổ cư đối với phần đất tọa lạc tại thửa số 1020, tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại Khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ và lãi suất từ khi vợ chồng ông vay mượn tiền cho đến nay. Yêu cầu nhận toàn bộ giá trị cây trồng trên đất do vợ chồng bị đơn trồng.

Đối với nhà đang thờ ông bà và vợ chồng bị đơn đang sinh sống thì không đồng ý chia vì nhà ông bà để lại đã cũ sau đó vợ chồng bị đơn bỏ tiền ra sửa chữa, tu bổ mới được như hiện trạng ngày nay, việc sửa chữa nhà và xây dựng mới vào năm 2008.

Nhà kho, hồ nuôi cá là do vợ chồng bị đơn tự bỏ tiền ra xây dựng năm 2013.

Đối với phần đất tại thửa 142, 159, 1020 thể hiện tại bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C thì thống nhất chia phần đất làm 04 phần mỗi người hưởng một phần. Yêu cầu nhận phần đất và cây trồng trên đất tại vị trí C. Đối với phần đất mộ tại vị trí e thì thống nhất không chia, ai nhận vị trí B thì quản lý luôn phần đất mộ. Vị trí E thì thống nhất không tranh chấp. Đối với phần đất được nhận nhiều hơn phần di sản thừa kế thì đồng ý trả giá trị chênh lệch. Việc phía ông P yêu cầu chia di sản thừa kế tại thửa 874 thì không đồng ý vì đó là tài sản riêng của vợ chồng bị đơn, đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn.

Đối với cây trồng trên đất là mít thì ai nhận bao nhiêu cây trồng là mít thì đề nghị trả giá trị lại cho bị đơn. Vào năm 2020, thì vợ chồng bị đơn có mua mít để trồng trên đất có tổng số lượng là 640 cây (Sáu trăm bốn mươi cây), mỗi cây có giá 45.000 đồng/cây (Bốn mươi lăm nghìn đồng trên cây). Thời điểm vợ chồng bị đơn mua mít trồng thì ông M vẫn còn sống và không có phản đối vì lúc đó vợ chồng bị đơn đang chung sống với ông M, sau khi mua giống mít về thì vợ chồng bị đơn có mướn người trồng trên đất. Do đó, đề nghị những người thừa kế phải trả giá trị cây mít cho vợ chồng bị đơn.

Đối với phần đất thể hiện tại thửa 81 theo bản trích đo địa chính số 132/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C thì không đồng ý chia theo hiện vật, đề nghị công nhận đất cho bị đơn, bị đơn đồng ý trả giá trị đất theo giá thẩm định cho các đồng thừa kế. Đối với tài sản trên đất thì không đồng ý chia.

Trong trường hợp diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận lớn hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì đồng ý trả lại giá trị cho những người đồng thừa kế còn lại. Nếu diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận nhỏ hơn diện tích đất và giá trị tài sản trên đất được nhận thì yêu cầu các đồng thừa kế trả lại giá trị cho bị đơn.

Phần đất tại thửa 83 theo bản trích đo địa chính số 132/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 của Trung tâm kỹ thuật tài nguyên và môi trường thành phố C thì không phải là di sản thừa kế của ông M và bà B1, phần đất này là tài sản của vợ chồng bị đơn tạo lập nên không đồng ý chia.

Vụ án đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành nên được đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 179/2023/DS – ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Cái Răng đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Lê Thanh P, ông Lê Thanh H, bà Lê Thị Thu S và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị Thu T1.
  2. Ghi nhận các đồng thừa kế của ông Lê Văn M, bà Lê Thị B1 gồm ông Lê Thanh H, ông Lê Thanh P, bà Lê Thị Thu T1, bà Lê Thị Thu S thống nhất các cây trồng trên đất tại các thửa đất 142,159,1020; tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo Bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập gồm có: Cóc 02 (Hai) cây loại B, 03 (Ba) cây loại C; Xoài 03 (Ba) cây loại B, 03 (Ba) cây loại C, 02 (Hai) cây loại D; Cam sành 03 (Ba) cây loại B; Mận 01 (Một) cây loại A; Nhãn 02 (Hai) cây loại B; Chuối 04 (Bốn) cây loại B; Bưởi: 02 (Hai) cây loại C; C (Bốn) cây loại A; Dừa 01 (Một) cây loại C; Bạch Đằng 02 (Hai) cây đường kính từ 10cm đến 20cm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/04/2023 là di sản thừa kế của ông Lê Văn M và bà Lê Thị B1 để lại, các đương sự thống nhất phân chia.

    Ghi nhận các đồng thừa kế của ông Lê Văn M, bà Lê Thị B1 gồm ông Lê Thanh H, ông Lê Thanh P, bà Lê Thị Thu T1, bà Lê Thị Thu S thống nhất phần đất tại vị trí E có diện tích 88,5m² loại đất lúa không tranh chấp và ghi nhận phần đất vị trí e có diện tích 155m² loại đất lúa; tại thửa đất số 159; tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập, các đồng thừa kế của ông Lê Văn M, bà Lê Thị B1 gồm ông Lê Thanh H, ông Lê Thanh P, bà Lê Thị Thu T1, bà Lê Thị Thu S đồng ý làm khu mộ, không phân chia, cùng đứng tên sử dụng đất đối với quyền sử dụng đất này.

    Sau khi khấu trừ phần đất có diện tích mà các đồng thừa kế của ông Lê Văn M, bà Lê Thị B1 thống nhất làm khu mộ cùng đứng tên và không tranh chấp tại vị trí e, E bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập thì diện tích còn lại để chia di sản thừa kế của ông Lê Văn M, bà Lê Thị B1 là 3860,7m² + 673m² = 4.533.7m². Tổng giá trị quyền sử dụng đất là di sản thừa kế của ông Lê Văn M, bà Lê Thị B1 là 2.906.130.000 đồng (Hai tỷ, chín trăm lẻ sáu triệu, một trăm ba mươi nghìn đồng). Chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất của ông Lê Văn M, bà Lê Thị B1 theo pháp luật cho những người thừa kế hàng thứ nhất cụ thể gồm: ông Lê Thanh H, ông Lê Thanh P, bà Lê Thị Thu T1, bà Lê Thị Thu S thì mỗi người được nhận một phần giá trị quyền sử dụng đất tương ứng 726.532.500 đồng (Bảy trăm hai mươi sáu triệu, năm ba mươi hai nghìn, năm trăm đồng). Đối với cây trồng trên phần đất tranh chấp tại các thửa 142,159,1020; tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo Bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập gồm: Cóc 02 (Hai) cây loại B, 03 (Ba) cây loại C; Xoài 03 (Ba) cây loại B, 03 (Ba) cây loại C, 02 (Hai) cây loại D; Cam sành 03 (Ba) cây loại B; Mận 01 (Một) cây loại A; Nhãn: 02 (Hai) cây loại B; Chuối 04 (Bốn) cây loại B; Bưởi 02 (Hai) cây loại C; Cà na 04 (Bốn) cây loại A; Dừa 01 (Một) cây loại C; Bạch đằng 02 (Hai) cây đường kính từ 10cm đến 20cm thì theo biên bản định giá ngày 24/4/2023 các cây trồng xác định di sản thừa kế có tổng giá trị theo giá thẩm định là: 20.053.000 đồng (Hai mươi triệu, không trăm năm mươi ba nghìn đồng). Chia di sản thừa kế giá trị cây trồng của ông Lê Văn M, bà Lê Thị B1 theo pháp luật cho những người thừa kế hàng thứ nhất cụ thể gồm: ông Lê Thanh H, ông Lê Thanh P, bà Lê Thị Thu T1, bà Lê Thị Thu S thì mỗi người được nhận một phần giá trị cây trồng tương ứng là 5.013.250 đồng (Năm triệu, không trăm mươi ba nghìn, hai trăm năm mươi đồng).

    Công nhận toàn bộ các cây Mít gồm có: 32 (Ba mươi hai) cây loại A, 107 (Một trăm lẻ bảy) cây loại B, 59 (Năm mươi chín) cây loại C, 32 (Ba mươi hai) cây loại D theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/04/2023 là do bà Lê Thị Thu T1 trồng nên thuộc quyền sở hữu của bà Lê Thị Thu T1.

    Giao cho bà Lê Thị Thu S phần đất tại vị trí A có diện tích 429,8m² loại đất LUC, thuộc một phần thửa 159 và phần đất có diện tích 568,4m² loại đất CLN; thửa 142; tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập và các cây trồng trên đất gồm: Mít 34 (Ba mươi bốn) cây loại B, 32 (Ba mươi hai) cây loại D, Xoài 02 (Hai) cây loại D; Nhãn 01 (Một) cây loại B; Cà Na 04 (Bốn) cây loại A, Dừa 01 (Một) cây loại C, B 02 (Hai) cây đường kính từ 10cm đến 20cm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/04/2023, các cây trồng nằm trên phần đất mà bà Lê Thị Thu S được hưởng thừa kế nói trên. Bà Lê Thị Thu S được nhận thêm giá trị quyền sử dụng đất được nhận di sản thừa kế của ông Lê Văn M và bà Lê Thị B1 do nhận ít hơn so với giá trị quyền sử đất được hưởng thừa kế với số tiền 113.752.500 đồng (Một trăm mười ba triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn, năm trăm đồng) từ những người được hưởng giá trị quyền sử dụng đất nhiều hơn phải trả từ ông Lê Thanh H, bà Lê Thị Thu T1. Đồng thời, buộc bà Lê Thị Thu S phải có nghĩa vụ trả giá trị cây trồng trên đất được hưởng thừa kế trên lệch so với giá trị cây trồng hưởng thừa kế, tương ứng với số tiền 1.182.750 đồng (Một triệu, một trăm tám mươi hai nghìn, bảy trăm năm mươi đồng) cho các đồng thừa kế ông Lê Thanh P và ông Lê Thanh H do hưởng giá trị cây trồng ít hơn.

    Giao cho ông Lê Thanh H phần đất tại vị trí D có diện tích 779,5m² loại đất LUC, thuộc một phần thửa 159; phần đất có diện tích 200m² loại đất ODT, thửa 1020, tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập và các cây trồng trên đất gồm: Mít 30 (Ba mươi) cây loại A, 07 (Bảy) cây loại B, Cây cốc 02 (Hai) cây loại C, Cây xoài 03 (Ba) cây loại C theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/04/2023, các cây trồng nằm trên phần đất mà ông Lê Thanh H được hưởng thừa kế nói trên. Buộc ông Lê Thanh H phải có nghĩa vụ trả giá trị diện tích đất được nhận thừa kế nhiều hơn so với phần giá trị diện tích đất được hưởng thừa kế từ ông Lê Văn M và bà Lê Thị B1 tương ứng với số tiền 163.217.500 đồng (Một trăm sáu mươi ba triệu, hai trăm mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) cho những người nhận giá trị quyền sử dụng đất ít hơn gồm ông Lê Thanh P và bà Lê Thị Thu S. Đồng thời, ông Lê Thanh H được nhận giá trị các cây trồng được hưởng thừa kế với số tiền 1.778.250 đồng đồng (Một triệu, bảy trăm bảy mươi tám nghìn, hai trăm năm mươi đồng) trong số tiền mà bà Lê Thị Thu S, bà Lê Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả lại giá trị cây trồng trong phần giá trị chênh lệnh được hưởng nhiều hơn.

    Giao cho ông Lê Thanh P phần đất có diện tích 891,6m² loại đất LUC tại vị trí B, thuộc một phần thửa 159; tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập và các cây trồng trên đất gồm: Mít 66 (Sáu mươi sáu) cây loại B theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/04/2023, các cây mít nằm trên phần đất mà ông Lê Thanh P được hưởng thừa kế nói trên. Đồng thời, giao cho ông Lê Thanh P quản lý phần đất vị trí e có diện tích 155m² loại đất LUC, thuộc một phần thửa 159; tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập mà các đồng thừa kế thống nhất làm khu mộ, không phân chia. Ông Lê Thanh P được nhận thêm giá trị quyền sử dụng đất được nhận di sản thừa kế của ông Lê Văn M và bà Lê Thị B1 do nhận giá trị quyền sử dụng đất ít hơn so với giá trị quyền sử đất được hưởng thừa kế với số tiền 280.732.500 đồng (Hai trăm tám mươi triệu, bảy trăm ba mươi hai nghìn, năm trăm đồng) từ những ông Lê Thanh H, bà Lê Thị Thu T1 do nhận giá trị diện tích đất hưởng thừa kế nhiều hơn. Đồng thời, ông Lê Thanh P được nhận giá trị các cây trồng được hưởng thừa kế với số tiền 5.013.250 đồng (Năm triệu, không trăm mười ba nghìn, hai trăm năm mươi đồng) trong số tiền mà bà Lê Thị Thu S, bà Lê Thị Thu T1 có nghĩa vụ trả lại giá trị cây trồng trong phần giá trị chênh lệnh được hưởng nhiều hơn.

    Giao cho bà Lê Thị Thu T1 phần đất tại vị trí C có diện tích 973,4m² lọai đất LUC, thuộc một phần thửa 159; tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập và các cây trồng trên đất gồm: Cam sành 03 (Ba) cây loại B; Mận 01 (Một) cây loại A; Nhãn: 01 (Một) cây loại B; Chuối 04 (Bốn) cây loại B; Cóc 02 (Hai) cây loại B, 01 (Một) cây loại C; Bưởi: 02 (Hai) cây loại C; Xoài: 03 (Ba) cây loại B theo biên bản xem xét thảm định tại chỗ ngày 24/04/2023, các cây trồng nằm trên phần đất mà bà Lê Thị Thu T1 được hưởng thừa kế nói trên. Đồng thời, giao cho bà Lê Thị Thu T1 toàn bộ phần đất tại có diện tích 673m² loại đất CLN; thửa 81; tờ bản đồ số 25; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 132/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập và toàn bộ tài sản trên phần đất nói trên gồm: Nhà chính: kết cấu khung móng cột bê tông cốt thép, vách tường, mái tole, nền gạch men, diện tích xây dựng 63m². Công trình phụ gồm: Mái che (1) khung cột bê tông đúc sẵn, vách tường, nền gạch men + cáng xi măng, mái tole, diện tích xây dựng 197,68m²; Nhà vệ sinh: vách tường, nền gạch men, mái tole, diên tích xây dựng 4,4m²; Chuồng gà: Vách lưới B40, mái tole, nền láng xi măng, cột sắt, diên tích xây dựng 37,2m²; Hồ cá: Vách tường (dày 0,1m), nền láng xi măng, diện tích: 48,6m³; Nhà kho vật tư: Khung cột bê tông vách tường, mái tole, nền gạch men + láng xi măng, diện tích xây dựng 198,4m² theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/11/2021. Buộc bà Lê Thị Thu T1 phải có nghĩa vụ trả giá trị diện tích đất được nhận thừa kế trên lệch so với phần giá trị diện tích đất được hưởng thừa kế từ ông Lê Văn M và bà Lê Thị B1 tương ứng với số tiền 211.892.500 đồng (Hai trăm mười một triệu, tám trăm chín mươi hai nghìn, năm trăm đồng) cho những người thừa kế nhận diện tích đất ít hơn gồm ông Lê Thanh P và bà Lê Thị Thu S. Đồng thời, buộc bà Lê Thị Thu T1 phải có nghĩa vụ trả giá trị cây trồng trên đất được nhận thừa kế trên lệch so với giá trị cây trồng được hưởng thừa kế, tương ứng với số tiền 5.608.750 đồng (Năm triệu, sáu trăm lẻ tám nghìn, bảy trăm năm mươi đồng) cho các đồng thừa kế ông Lê Thanh P và ông Lê Thanh H do hưởng giá trị cây trồng ít hơn.

    Buộc bà Lê Thị Thu S, ông Lê Thanh H, ông Lê Thanh P có nghĩa vụ trả giá trị cây mít mà các đương sự được hưởng trên phần đất nhận di sản thừa kế theo bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập cho bà Lê Thị Thu T1 với tổng số tiền 149.929.000 đồng (Một trăm bốn mươi chín triệu, chín trăm hai mươi chín nghìn đồng). Trong đó, bà Lê Thị Thu S có nghĩa vụ trả số tiền 32.362.000 đồng (Ba mươi hai triệu, ba trăm sáu mươi hai nghìn đồng), ông Lê Thanh H có nghĩa vụ trả số tiền 55.242.000 đồng (Năm mươi lăm triệu, hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng), ông Lê Thanh P có nghĩa vụ trả số tiền 38.109.000 đồng (Ba mươi tám triệu, một trăm lẻ chín nghìn đồng).

    Sau khi các đương sự thực hiện nghĩa vụ thanh toán xong số tiền nêu trên với nhau thì được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã nêu trên theo quy định pháp luật. (Kèm theo Bản trích đo địa chính số 131 và 132/TTKTTNMT lập cùng ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở Tài nguyên và môi trường thành phố C, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/11/2021 và ngày 24/4/2023)

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra Quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

  3. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị Thu T1 về việc yêu cầu trả chi phí chuyển mục đích đất lên thổ cư đối với phần đất tại thửa 1020; tờ bản đồ số 26; tọa lạc tại phường H, quận C, thành phố Cần Thơ theo bản trích đo địa chính số 131/TTKTTNMT ngày 13/09/2022 do Trung tâm K thuộc Sở tài nguyên và môi trường thành phố C lập với số tiền 166.810.000 đồng (Một trăm sáu mươi sáu triệu, tám trăm mười nghìn đồng) và tiền lãi.
  • Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ hai lần tổng cộng số tiền 15.600.000 đồng (Mười lăm triệu, sáu trăm nghìn đồng). Những người nhận di sản thừa kế của ông Lê Văn M và bà Lê Thị B1 gồm: Ông Lê Thanh H, ông Lê Thanh P, bà Lê Thị Thu T1, bà Lê Thị Thu S mỗi người phải chịu một phần tương ứng với phần di sản được nhận tương ứng với số tiền 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng). Do các nguyên đơn tạm ứng trước 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng) và bị đơn ứng trước 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nên bị đơn phải trả lại số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) cho các nguyên đơn. Về chi phí sao lục với số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Do nguyên đơn ông Lê Thanh P yêu cầu nên phải chịu chi phí này. Ông Lê Thanh P đã thực hiện xong.
  • Về án phí dân sự:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
    2. Ông Lê Thanh H phải chịu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 35.471.500 đồng (Ba mươi lăm triệu, bốn trăm bảy mươi mốt nghìn, năm trăm đồng), khấu trừ tiền tạm ứng án phí mà ông H đã nộp 625.000 đồng (Sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 006921 ngày 31/05/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thì ông Lê Thanh H phải nộp thêm số tiền 34.846.500 (Ba mươi bốn triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

      Ông Lê Thanh P phải chịu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 34.786.500 đồng (Ba mươi bốn triệu, bảy trăm tám mươi sáu nghìn, năm trăm đồng), khấu trừ tiền tạm ứng án phí mà ông Lê Thanh Phương H1 đã nộp 625.000 đồng (Sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 006922 ngày 31/05/2021, số tiền 7.974.000 đồng (Bảy triệu, chín trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) và 16.580.000 đồng (Mười sáu triệu, năm trăm tám mươi nghìn đồng) 0008097 ngày 17/11/2021 và số 0008973 ngày 03/03/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ, ông Lê Thanh P phải nộp thêm số tiền 9.607.500đồng (chín triệu, sáu trăm lẻ bảy nghìn, năm trăm đồng).

      Bà Lê Thị Thu S phải chịu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 34.556.500 đồng (Ba mươi bốn triệu, năm trăm năm mươi sáu nghìn, năm trăm đồng), khấu trừ tiền tạm ứng án phí mà bà Lê Thị Thu S đã nộp 625.000đồng (Sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) và 2.500.000 đồng (Hai triệu, năm trăm nghìn đồng) theo các biên lai thu số 006923 ngày 31/5/2021 và số 0008104 ngày 22/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thì bà Lê Thị Thu S phải nộp thêm số tiền 31.431.500 đồng (Ba mươi mốt triệu, bốn trăm ba mươi mốt nghìn, năm trăm đồng).

      Bà Lê Thị Thu T1 phải chịu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 51.990.000 đồng (Năm mươi mốt triệu, chín trăm chín mươi nghìn đồng), khấu trừ tiền tạm ứng án phí mà bà Lê Thị Thu T1 đã nộp 9.500.000 đồng (Chín triệu, năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008082 ngày 04/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ thì bà T1 phải nộp thêm số tiền 42.490.000đồng (Bốn mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi nghìn đồng).

    3. Án phí dân sự phúc thẩm:
    4. Ông Lê Thanh H1, bà Lê Thị Thu S, bà Lê Thị Thu T1, ông Nguyễn Văn L mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

      Bà Lê Thị Thu T1 được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000268 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí.

      Bà Lê Thị Thu S được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003497 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí.

      Ông Lê Thanh H1 được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003496 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí.

      Ông Nguyễn Văn L được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000267 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thành án phí.

      Ông Lê Thanh P được nhận lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000271 ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

    Nơi nhận:

    • - VKSND thành phố Cần Thơ;
    • - TAND quận Cái Răng;
    • - Chi cục THA-DS quận Cái Răng
    • - Phòng KTNV& THA;
    • - Văn phòng;
    • - Đương sự.

    TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

    THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




    Nguyễn Thị Tuyết Loan

    THÔNG TIN BẢN ÁN

    Bản án số 191/2024/DSPT ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp về thừa kế tài sản

    • Số bản án: 191/2024/DSPT
    • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
    • Cấp xét xử: Phúc thẩm
    • Ngày ban hành: 15/05/2024
    • Loại vụ/việc: Dân sự
    • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
    • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
    • Đính chính: Đang cập nhật
    • Thông tin về vụ/việc: Hải - Trang - Tranh chấp thừa kế tài sản
    Tải về bản án
    Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
    Luật sư Hải A.I
    Hỗ trợ trực tuyến
    Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger