|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN Bản án số: 191/2024/DS-PT Ngày: 15-4-2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng xây dựng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Thẩm phán:
Bà Trịnh Thị Phúc.
Ông Đặng Văn Những.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ôn Tú Trân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.
Vào ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng xây dựng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 240/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 81/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 02 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Ngọc L, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số G, đường D, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn M, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Người đại diện theo ủy quyền của ông M: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số F, đường T, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền ngày 27 tháng 3 năm 2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn L1, sinh năm 1938. Địa chỉ: Số G, đường D, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người kháng cáo: Ông Đỗ Văn M.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 08 năm 2022, và các lời khai tiếp theo do bà Vũ Ngọc L trình bày:
Bà là chủ thửa đất 738 TBĐ số 2 tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Ngày 15/4/2022, bà với ông M có thỏa thuận với nhau về việc giao khoán cho ông M xây nhà cho bà trọn gói trên thửa 738 TBĐ số 2 tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An là 1.300.000.000 đồng theo “Hợp đồng xây nhà” bằng giấy tay đề ngày 15/4/2022. Bà đã đưa 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng) cho ông M để ông M mua vật tư, trả tiền nhân công và thực hiện việc xây dựng. Đến ngày 21/4/2022, ông M bắt đầu khởi công xây. Khi ông M xây dựng được một phần công trình thì giao cho bà bảng vẽ thiết kế mặt bằng công trình, trong đó có diện tích từng hạng mục, đơn giá và tổng số tiền xây xong nhà là: 3.722.316.000 đồng. Đồng thời ông M yêu cầu bà phải thanh toán tiếp thì mới thi công.
Nay bà khởi kiện yêu cầu: Tuyên hủy hợp đồng xây dựng nhà (giấy tay) giữa bà với ông M có ký 15/4/2022; Buộc ông M tháo dỡ công trình trên đất của bà; Buộc ông M hoàn trả cho bà số tiền bà đã đưa 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng).
Bị đơn ông Đỗ Văn M trình bày:
Vào khoảng tháng 4/2022 thì ông M với vợ chồng bà L có thỏa thuận về việc xây nhà cho bà L tại thửa 738 TBĐ số 2 tại xã M, các bên không có lập hợp đồng, ông M chỉ viết vào tờ giấy trắng có nhận 1.300.000.000 đồng của vợ chồng bà L, chứ ông không biết về Giấy tay Hợp đồng xây nhà. Ông M thừa nhận có nhận của vợ chồng bà L số tiền 1.300.000.000 đồng là để xây nhà, nhưng ông không có nhận xây nhà trọn gói, không có thỏa thuận diện tích xây dựng, bà L chỉ tới đâu ông xây tới đó. Bà L đưa tiền cho ông để ông tạm ứng mua vật tư và thuê nhân công, hết tiền ông bà sẽ đưa thêm tiền để xây tiếp và sau này quyết toán sau. Qua yêu cầu khởi kiện của bà L, ông không đồng ý. Bởi vì ông đã dùng hết số tiền bà L đưa để chi vào các khoản cụ thể: mua xi măng, gạch, cát lấp, cát vàng, đá xanh tại Vật Liệu Xây dựng Đ số tiền 250.710.000 đồng; mua sắt cân số tiền 54.320.000 đồng; mua sắt, đai, đinh tại Vật Liệu xây dựng T7: 72.897.000 đồng; mua sắt phi, kẽm tại Cửa hàng vật liệu xây dựng Thịnh Thịnh P1 số tiền 44.524.000 đồng; mua gạch, keo chà ron tại Cửa hàng vật liệu xây dựng K số tiền 21.760.000 đồng; tiền nhân công cho công trình nhà bà L: 549.350.000 đồng, gồm tiền nhân công cho giám sát thi công ông Ngô Thanh P2 39.000.000 đồng, tiền công chủ thi công ông Đỗ Văn M 39.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn V 17.850.000 đồng, Nguyễn Văn Đ 24.500.000 đồng, Đỗ Văn H 24.500.000 đồng, ông Nguyễn Văn T 18.200.000 đồng, ông Nguyễn Phú G 17.150.000 đồng, bà Nguyễn Thị T1 15.750.000 đồng, ông Nguyễn Văn T2 24.500.000 đồng, ông Võ Minh Q 23.000.000 đồng, ông Phan Danh H1 21.500.000 đồng, ông Đỗ Tuấn K 20.500.000 đồng, ông Lê Phúc L2 24.500.000 đồng, ông Hoàng Minh T3 15.750.000 đồng, ông Võ Quang L3 15.050.000 đồng, ông Nguyễn Văn K1 16.100.000 đồng, ông Ngô Văn T4 24.500.000 đồng, bà Trần Kim S 23.500.000 đồng, ông Nguyễn Văn Ơ số tiền 23.000.000 đồng, ông Nguyễn Hữu L4 23.500.000 đồng, ông Nguyễn Văn T 24.500.000 đồng, bà Nguyễn Thị T5 18.900.000 đồng, ông Nguyễn Văn N 14.350.000 đồng, ông Hồ Văn T6 24.500.000 đồng, ông Nguyễn Văn C 15.750.000 đồng; ngoài ra ông M còn chi khoan giếng 3.200.000 đồng, đi dây diện từ đồng hồ về nhà và tiền nhân công 2.800.000 đồng, đá san lắp đường 1.600.000 đồng, cát san lấp vô sân 4.350.000 đồng, làm hàng rào tạm thời và tiền nhân công 5.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền ông M đã chi phí cho công trình là: 1.010.511.000 đồng. Do đó, ông đại diện ông M đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông L2 trình bày: Ông là chồng của bà L, ông thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà L. Ông không yêu cầu gì trong vụ án, ông để bà L toàn quyền quyết định trong vụ án.
Tại Tòa án cấp sơ thẩm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L trình bày: Giữa bà L và ông M chỉ có hợp đồng xây dựng bằng giấy tay ngày 15/4/2022, không có hợp đồng chi tiết cụ thể về diện tích, chất lượng vật liệu xây dựng, dự toán công trình, và không có bản vẽ chi tiết công trình đến khi ông M đề nghị bà L đưa thêm tiền thì mới giao bản vẽ công trình cho bà L. Theo Bảng tổng hợp kinh phí công trình nhà bà L do Trung tâm giám định chất lượng xây dựng lập dự toán xác định tổng chi phí là: 568.891.369 đồng, cụ thể: chi phí vật liệu: 415.932.832 đồng, chi phí nhân công: 141.208.677 đồng, chi phí máy thi công: 11.749.860 đồng; và theo kết luận giám định chất lượng công trình xây dựng số 95/BC-TTGĐ ngày 29/8/2023 thì có nhiều hạng mục không đạt chất lượng về cường độ bê tông nên công trình xây dựng nhà bà L không đảm bảo chất lượng. Ngoài ra, ông M thừa nhận việc ông có nhận của bà L số tiền 1.300.000.000 đồng, để thi công công trình nhà cho bà L tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với các chứng cứ do bị đơn cung cấp như bản kê mua vật liệu, bản kê chi phí nhân công rất là chung chung, không thể hiện được cụ thể vật liệu xây dựng mà ông M mua có phải riêng cho công trình bà L không, không có bản chấm công, nhật ký công trình, bảng ký nhận lương nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận chứng cứ ông M nêu ra và chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà L.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 240/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và Quyết định sữa chữa bổ sung số 83/2023/QĐ-SCBSBA ngày 28/9/2023 đã căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 147, Điều 157, Điều 159, Điều 471, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 357, Điều 398, Điều 401, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 112, 113, 135, 137, 138, 139, 144 Luật Xây dựng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Ngọc L "tranh chấp hợp đồng xây dựng" với ông Đỗ Văn M.
Buộc ông Đỗ Văn M phải hoàn trả cho bà Vũ Ngọc L số tiền 657.269.000 đồng (S1 trăm năm mươi bảy triệu, hai trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
- Các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Ngọc L không được chấp nhận như sau:
- Hủy hợp đồng xây dựng bằng giấy tay ngày 15/4/2022 giữa bà Vũ Ngọc L với ông Đỗ Văn M.
- Buộc ông Đỗ Văn M tháo dỡ công trình dựng trên thửa đất số 738 tờ bản đồ số 2, tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An của bà Vũ Ngọc L.
- Buộc ông Đỗ Văn M phải trả số tiền 642.731.000 đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, giám định: Bà Vũ Ngọc L chịu chịu 19.340.000 đồng. Ông Đỗ Văn M chịu 19.340.000 đồng và phải nộp hoàn trả cho bà Vũ Ngọc L.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Ngọc L được miễn án phí. Ông Đỗ Văn M phải nộp 30.290.760 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.
Ngày 10/10/2023, ông Đỗ Văn M kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Bà Vũ Ngọc L trình bày: Ông M nhận tiền của bà số tiền 1.300.000.000 đồng nhưng ông M xây dựng không đúng yêu cầu của bà, sau đó ông M yêu cầu bà phải đưa thêm tiền mới tiếp tục xây nhà nên hai bên xảy ra mâu thuẩn không tiếp tục thực hiện hợp đồng xây dựng nên bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Ông Đỗ Văn M trình bày: Do hợp đồng giữa hai bên không rõ ràng, ông đã tiến hành xây nhà cho bà L, sau đó bà L không đồng ý thanh toán tiền cho ông để tiếp tục xây nhà nên hai bên xảy ra mâu thuẫn, ông ngừng thi công nhà bà L. Tại phiên tòa ông đồng ý trả lại cho bà L số tiền 400.000.000 đồng. Trường hợp bà L không đồng ý thì bà L phải tháo dỡ toàn bộ công trình, ông sẽ trả lại cho bà L số tiền đã nhận 1.300.000.000 đồng.
Ông Lê Văn L1 trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của bà L, không bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông Đỗ Văn M đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.
Qua xem xét hồ sơ vụ án và yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Văn M, nhận thấy:
Nội dung kháng cáo: Ông Đỗ Văn M có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông M chỉ đồng ý trả lại cho bà Vũ Ngọc L số tiền 400.000.000 đồng.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và xét kháng cáo của ông Đỗ Văn M, thấy rằng:
Nguyên đơn bà Vũ Ngọc L khởi kiện tranh chấp hợp đồng xây dựng nhà và bà có cung cấp giấy tay " Hợp đồng xây nhà" lập ngày 15/4/2022 giữa bà Vũ Ngọc L với ông Đỗ Văn M. Xét thấy, nội dung giấy tay " Hợp đồng xây nhà" nêu trên chỉ thể hiện bà L có giao cho ông M số tiền 1.300.000.000 đồng, không thể hiện rõ đối tượng của hợp đồng xây dựng nhưng trên thực tế trong suốt quá trình ông M xây dựng nhà ở cho bà L trên phần đất thửa 738 thì bà L cũng không có ý kiến phản đối. Ngoài giấy tay " Hợp đồng xây nhà" lập ngày 15/4/2022 thì giữa các bên không có bất kỳ văn bản nào thỏa thuận đối với diện tích, kết cấu xây dựng nhà mà việc xây dựng này do các bên thỏa thuận miệng trong quá trình thi công, trong suốt quá trình xây dựng thì bà L vẫn đến xem xét và không có ngăn cản việc xây dựng của ông M. Phía bị đơn ông M thừa nhận có xây dựng nhà cho bà L và nhận của bà L số tiền 1.300.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định giữa bà L và ông M tồn tại hợp đồng xây dựng nhà là có cơ sở.
Bà L yêu cầu buộc ông M phải trả lại toàn bộ số tiền 1.300.000.000 đồng mà bà L đã đưa cho ông M để xây nhà. Phía bị đơn ông Đỗ Văn M không đồng ý vì cho rằng tổng chi phí cho công trình ông đã thực hiện là 1.010.511.000 đồng. Tuy nhiên, đối với các bản kê mua vật liệu sắt, cát, gạch, kẽm... để xây dựng công trình do ông M cung cấp không thể hiện được rõ đó là vật liệu xây dựng được sử dụng có phải cho công trình nhà bà L hay không và bản kê chi phí nhân công không thể hiện cụ thể bảng chấm công, nhật ký công trình, bảng ký nhận lương và phía bà L cũng không đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận. Căn cứ theo Kết luận giám định chất lượng công trình xây dựng số 95/BC-TTGĐ ngày 29/8/2023 của Trung tâm Giám định Chất lượng Xây dựng và Dự Toán Công trình của Trung tâm Giám định Chất lượng Xây dựng thì chi phí để xây dựng công trình nhà bà L đến giai đoạn hiện tại gồm tầng trệt, tầng lững, tầng lầu với tổng diện tích 350,12m², có kết cầu hệ khung chịu lực chính cột, dầm, sàn bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền bê tông xi măng, nhà vệ sinh trệt tô trát, bên trong ốp gạch là 625.781.000 đồng. Ngoài ra, ông M còn bỏ chi phí để khoan giếng, đi dây điện từ đồng hồ về nhà và nhân công, đá đổ đường, cát san lấp vô sân, làm hàng tạm & tiền nhân công là 16.950.000 đồng thì bà L cũng thừa nhận phần này nên được cộng vào chi phí công trình cho ông M. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của bà L đối với số tiền 1.300.000.000 đồng – (625.781.000 đồng + 16.950.000 đồng) = 657.269.000 đồng là có căn cứ. Xét kháng cáo của ông Đỗ Văn M là không có cơ sở chấp nhận.
Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 đề nghị HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Đỗ Văn M và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Đỗ Văn M thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Theo đơn khởi kiện bà L yêu cầu hủy hợp đồng xây dựng nhà (giấy tay) giữa bà L với ông M ký ngày 15/4/2022; Buộc ông M tháo dỡ công trình trên đất của bà; Buộc ông M hoàn trả cho bà số tiền bà đã đưa 1.300.000.000 đồng (Một tỷ ba trăm triệu đồng).
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà L. Sau khi xét xử sơ thẩm, ông M kháng cáo chỉ đồng ý trả số tiền 400.000.000 đồng. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
[3] Xét kháng cáo của ông Đỗ Văn M, thấy rằng:
[3.1] Vào ngày 15/4/2022 giữa bà Vũ Ngọc L với ông Đỗ Văn M có ký hợp đồng xây dựng, ông M có nhận của bà L số tiền 1.300.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, thì ngày 22/4/2022 ông M tiến hành xây nhà cho bà L. Khi đang xây dựng, thì hai bên xảy ra mâu thuẫn nên ông M không tiếp tục xây nhà cho bà L.
[3.2] Trong quá trình giải quyết vụ án các bên trình bày không thống nhất:
Bà L cho rằng: Khi hai bên thỏa thuận, ông M phải xây nhà cho bà bao gồm tiền công, tiền vật liệu, hoàn chỉnh căn nhà là 1.300.000.000 đồng theo “Hợp đồng xây nhà” bằng giấy tay đề ngày 15/4/2022. Bà đã đưa cho ông M số tiền 1.300.000.000 đồng để ông M mua vật tư, trả tiền nhân công và thực hiện việc xây dựng. Đến ngày 21/4/2022, ông M bắt đầu khởi công xây. Khi ông M xây dựng được một phần công trình thì giao cho bà bảng vẽ thiết kế mặt bằng công trình, trong đó có diện tích từng hạng mục, đơn giá và tổng số tiền xây xong nhà là: 3.722.316.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm hai mươi hai triệu ba trăm mười sáu ngàn đồng), bà không đồng ý thanh toán tiếp số tiền còn lại nên ông M không tiếp tục xây dựng cho bà.
Ông M cho rằng: Ông M thừa nhận có nhận của vợ chồng bà L số tiền 1.300.000.000 đồng là để xây nhà, nhưng ông không có nhận xây nhà trọn gói, không có thỏa thuận diện tích xây dựng, bà L chỉ tới đâu ông xây tới đó. Bà L đưa tiền cho ông để ông tạm ứng mua vật tư và thuê nhân công, hết tiền bà L sẽ đưa thêm tiền để xây tiếp và sau này quyết toán sau. Số tiền ông nhận 1.300.000.000 đồng, ông đã chi hết số tiền 1.010.511.000 đồng.
[3.3] Căn cứ hợp đồng xây dựng giữa bà L và ông M ngày 15/4/2022 có nội dung: “Tôi Vũ Ngọc L, hôm nay ngày 15/4/2022, tôi giao số tiền 1.300.000.000 đồng cho anh Đỗ Văn M, hai bên có ký tên, họ tên”.
Xét thấy, giữa bà L và ông M có ký hợp đồng xây dựng nhưng nội dung không rõ ràng, chi tiết, cụ thể việc xây nhà như thế nào. Sau khi ký hợp đồng ông M có nhận của bà L số tiền 1.300.000.000 đồng để thi công xây dựng nhà cho bà L. Ông M chỉ đồng ý trả lại 400.000.000 đồng vì ông đã chi phí các khoản xây nhà cho bà L.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông M có cung cấp các bản kê mua vật liệu xây dựng gồm sắt, cát, gạch, kẽm..., ông M cho rằng vật liệu xây dựng ông mua là xây dựng công trình nhà của bà L nhưng thấy rằng các chứng từ ông M cung cấp không chứng minh được ông M mua vật liệu xây dựng cho công trình nhà bà L hay công trình nào khác, tại phiên tòa phúc thẩm ông M xác định ngoài công trình bà L thì ông cũng có làm các công trình khác và bản kê chi phí trả tiền nhân công không thể hiện cụ thể bảng chấm công, nhật ký công trình, bảng ký nhận lương nên lời trình bày của ông M cho rằng ông đã chi hết số tiền 1.010.511.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận.
[3.4] Căn cứ theo Kết luận giám định chất lượng công trình xây dựng số 95/BC-TTGĐ ngày 29/8/2023 của Trung tâm Giám định Chất lượng Xây dựng và Dự Toán Công trình của Trung tâm Giám định Chất lượng Xây dựng thì chi phí để xây dựng công trình nhà bà L đến giai đoạn hiện tại gồm tầng trệt, tầng lững, tầng lầu với tổng diện tích 350,12m², có kết cầu hệ khung chịu lực chính cột, dầm, sàn bê tông cốt thép, tường xây gạch, nền bê tông xi măng, nhà vệ sinh trệt tô trát, bên trong ốp gạch là 625.781.000 đồng.
Ngoài ra, ông M còn bỏ chi phí để khoan giếng, đi dây điện từ đồng hồ về nhà và nhân công, đá đổ đường, cát san lấp vô sân, làm hàng tạm và tiền nhân công là 16.950.000 đồng. Bà L cũng thừa nhận việc ông M có thực hiện các công việc trên nên được cộng vào chi phí công trình cho ông M.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông M có nghĩa vụ hoàn trả cho bà L số tiền sau khi khấu trừ vào chi phí mà ông M đã bỏ ra để xây dựng công trình nhà L, cụ thể 1.300.000.000 đồng - 625.781.000 đồng – 16.950.000 đồng = 657.269.000 đồng là phù hợp. Tại phiên tòa ông M đồng ý trả lại cho bà L 400.000.000 đồng nhưng bà L không đồng ý nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận đề nghị của ông M.
[4] Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo của ông Đỗ Văn M không có căn cứ chấp nhận.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nên chấp nhận.
[6] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, giám định ở cấp sơ thẩm: Bà L có có nộp số tiền 38.680.000 đồng. Do yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bà L chịu 19.340.000 đồng, ông M chịu 19.340.000 đồng hoàn trả cho nguyên đơn.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án:
Ông Đỗ Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể: 657.269.000 đồng = 20.000.000 đồng + (4% x 257.269.000 đồng) = 30.290.760 đồng.
Bà Vũ Ngọc L phải chịu án phí đối với yêu cầu không được Tòa án chấp nhận: 1.300.000.000 đồng - 657.269.000 đồng = 642.731.000 đồng. Tuy nhiên bà Vũ Ngọc L là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Đỗ Văn M không được chấp nhận nên ông Đỗ Văn M phải chịu án phí theo quy định.
[9] Các phần khác của bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đỗ Văn M.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 240/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 147, Điều 157, Điều 159, Điều 471, Điều 483 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 117, Điều 357, Điều 398, Điều 401, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 112, 113, 135, 137, 138, 139, 144 Luật Xây dựng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Ngọc L "tranh chấp hợp đồng xây dựng" với ông Đỗ Văn M.
Buộc ông Đỗ Văn M phải hoàn trả cho bà Vũ Ngọc L số tiền 657.269.000 đồng (S1 trăm năm mươi bảy triệu, hai trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
- Các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Ngọc L không được chấp nhận như sau:
- Hủy hợp đồng xây dựng bằng giấy tay ngày 15/4/2022 giữa bà Vũ Ngọc L với ông Đỗ Văn M.
- Buộc ông Đỗ Văn M tháo dỡ công trình dựng trên thửa đất số 738 tờ bản đồ số 2, tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An của bà Vũ Ngọc L.
- Buộc ông Đỗ Văn M phải trả số tiền 642.731.000 đồng.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, giám định: Bà Vũ Ngọc L chịu chịu 19.340.000 đồng. Ông Đỗ Văn M chịu 19.340.000 đồng và phải nộp hoàn trả cho bà Vũ Ngọc L.
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N1 quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Vũ Ngọc L được miễn án phí.
Ông Đỗ Văn M phải nộp 30.290.760 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách nhà nước.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ Văn M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005763 ngày 28/9/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 191/2024/DS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Số bản án: 191/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng xây dựng
