Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 91/2024/HS-ST

Ngày: 13-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Chung Quốc Hội

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Ngô Rạng Đông.
  • - Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đình Toàn – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên toà: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Chí B, sinh ngày 28/3/2005, tại P, Kiên Giang.

Tên gọi khác:

Nơi ĐKTT: Ấp Chuồng Vích, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Chỗ ở: Ấp Chuồng Vích, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 12/12.

Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Trần Chí C và bà Danh Thanh H.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2023 đến ngày 22/9/2023 và bị cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Phạm Nguyễn Quốc H1, sinh năm 2002, tại T, An Giang.

Tên gọi khác: B.

Nơi ĐKTT: Ấp Vĩnh Hiệp, xã Vĩnh Gia, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.

Chỗ ở: Ấp Gành Dầu, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 04/12.

Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Phạm Văn L và bà Nguyễn Thị Cẩm T.

Bị cáo có vợ tên Ngô Thị Mẫn N, sinh năm 2004 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2023, được quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn và được bảo lĩnh từ ngày 31/01/2024 đến ngày 15/02/2024.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Đỗ Xuân Đ, sinh năm 1997, tại T, tỉnh Thanh Hóa.

Tên gọi khác:

Nơi ĐKTT: Thôn Dân Quý, xã Thiệu Chính, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Chỗ ở: Ấp Gành Dầu, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 11/12.

Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Đỗ Xuân N1 và bà Đỗ Thị H2.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2023, được quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn và được bảo lĩnh từ ngày 07/11/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Vũ Văn L1, sinh năm 1985, tại T, tỉnh Yên Bái.

Tên gọi khác:

Nơi ĐKTT: Thôn 2, xã Quy Mông, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Chỗ ở: Ấp Gành Dầu, xã Gành Dầu, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ văn hóa: 12/12.

Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên Chúa. Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Vũ Văn M và bà Trần Thị T1.

Bị cáo có vợ tên Hà Thị H3, sinh năm 1995 và 02 người con sinh năm 2919 và 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/9/2023, được quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn và được bảo lĩnh từ ngày 07/11/2023.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Ngọc T2, sinh năm 1994 (có đơn vắng mặt).

Địa chỉ : Ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ, ngày 11/9/2023, bị cáo Đỗ Xuân Đ và Vũ Văn L1 cho khách thuê xe điện tại khu vực G thuộc ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang thì phát sinh mâu thuẫn với bà Nguyễn Thị G về việc kinh doanh giành khách cho thuê xe máy điện. Sau đó, bị cáo Đ và L1 nhờ Phạm Văn Q, H4 và T3 (chưa rõ nhân thân) cùng đi đến Shop House K N để nói chuyện. Đến khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, khi nhóm của bị cáo Đ điều khiển xe máy đến trước khu vực Shop House K thì bị V (chưa rõ nhân thân), bị cáo Trần Chí B, Phạm Nguyễn Thế H5 cầm theo ghế gỗ và T4 (chưa rõ nhân thân) cầm theo 02 viên gạch ống rượt đuổi, đánh nhau. Bị cáo Đ chạy đến dùng tay đánh liên tục vào người của H4 và lấy ghế bằng gỗ có sẵn rượt đánh H4 và T3. Còn bị cáo B chạy đến dùng chân đạp và đánh H4. Do thấy H4 bị đánh nên Đ xông vào dùng tay đánh và dùng ghế gỗ ném vào nhóm của bị cáo B. Còn bị cáo L1 dùng tay đánh và nhặt 01 cục gạch ống (đã bị vỡ) cầm làm hung khí đánh nhau. Khi thấy V và bị cáo B đánh nhau với bị cáo Đ và L1 thì bị cáo H5 xông vào dùng tay chân đánh đá và cầm ghế gỗ rượt đuổi đánh nhau. Bị cáo H5 bị Đ và L1 dùng tay đánh té ngã nên bị cáo H5 dùng tay đánh bị cáo Đ và L1. Sau đó bị cáo H5 và B gầm ghế gỗ rượt chặn đầu bị cáo Đ và L1 để đánh thì được lực lượng bảo vệ Grand World đến can ngăn và các bên tự giải tán. Đến ngày 13/9/2023 các bị cáo B, H5, Đ, L1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đầu thú.

Vật chứng thu giữ:

  • - 02 cái ghế bằng gỗ, loại có tựa có đệm ngồi cao 84cm, dài 40cm, rộng 40cm, đã qua sử dụng;
  • - 10 mảnh vỡ của gạch ống, loại 04 lỗ, không rõ hình dạng, có trọng lượng 1,4kg;
  • - 01 USB chứa Video quay lại cảnh đánh nhau.

Tại bản cáo trạng số: 39/CT-VKSPQ ngày 23 tháng 02 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với các bị cáo Trần Chí B, Phạm Nguyễn Quốc H1, Đỗ Xuân Đ và Vũ Văn L1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo B từ 09 (chín) đến 12 tháng tù.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo H1 từ 09 (chín) đến 12 tháng tù.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 09 (chín) đến 12 tháng tù.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L1 từ 09 (chín) đến 12 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 02 cái ghế bằng gỗ, loại có tựa có đệm ngồi cao 84cm, dài 40cm, rộng 40cm, đã qua sử dụng và 10 mảnh vỡ của gạch ống, loại 04 lỗ, không rõ hình dạng, có trọng lượng 1,4kg.

Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/3/2024.

Về bồi thường thiệt hại: Ông Vũ Ngọc T2 đã nhận được tiền bồi thường của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo B, H1, Đ đều có yêu cầu Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo B, H1, Đ, L1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố. Hội đồng xét xử nhận thấy rằng hành vi phạm tội của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của các bị cáo đã có đủ cơ sở xác định: Do mâu thuẫn với nhau trong việc tìm khách cho thuê xe điện tại khu vực Grand World thuộc ấp G, xã G, thành phố P, tỉnh Kiên Giang nên nhóm của bị cáo Đ, L1, cùng với Phạm Văn Q, H4, T3 (chưa rõ nhân thân) đến khu vực Shop House K N gặp bà G để nói chuyện về việc bắt khách thì bị V (chưa rõ nhân thân), B, H1 cầm theo 01 cái ghế bằng gỗ và tính (chưa rõ nhân thân) cầm 02 viên gạch ống từ trong Shop House Kha N chạy ra đường V – khu vực Grand World để rượt đuổi và đánh nhóm của bị cáo Đ, L1. Cả 04 bị cáo B, H1, Đ, L1 lao vào rượt đuổi đánh nhau gây náo loạn tại đường V. Sau đó được lực lượng bảo vệ của Grand W đến can ngăn.

Hành vi phạm tội của các bị cáo B, H1, Đ, L1 là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây mất an toàn xã hội tại khu vực G, nơi có nhiều khách du lịch đến tham quan, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển du lịch của P. Trong phần nghị án, Hội đồng xét xử quyết định cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đồng thời, có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo B, H1, Đ, L1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đều đầu thú, trước khi mở phiên tòa các bị cáo cùng khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho ông Vũ Ngọc T2 số tiền 02 cái ghế là 900.000 đồng (trong đó, bình 250.000 đồng, H1 250.000 đồng, Đ 150.000 đồng, L1 250.000 đồng). Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo L1 có ông nội Vũ Trọng T5 được cấp hạng nhì thành tích trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước, bà nội Vũ Thị C1 được Bộ cấp Giấy chứng nhận tham gia Dân công hỏa tuyến.

Đối với bị cáo Đ có ông nội Đỗ Xuân T6 được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3, bà nội Đỗ Thị N2 được UBND tỉnh T tặng Giấy khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

[4] Về xử lý vật chứng:

Các vật chứng gồm 02 cái ghế bằng gỗ, loại có tựa có đệm ngồi cao 84cm, dài 40cm, rộng 40cm và 10 mảnh vỡ của gạch ống, loại 04 lỗ, không rõ hình dạng, có trọng lượng 1,4kg là công cụ các bị cáo dùng để đánh nhau, gây rối trật tự công cộng, không còn giá trị sử dụng nên cần xem xét, tịch thu tiêu hủy.

Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/3/2024.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo B, H1, Đ, L1 cùng liên đới bồi thường cho ông Vũ Ngọc T2 thiệt hại 02 cái ghế gỗ, ông T2 không yêu cầu bồi thường chi phí nào khác, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Các bị cáo B, H1, Đ, L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Chí B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Trần Chí B 09 tháng tù. Khấu trừ 10 (mười) ngày thời hạn tạm giữ, tạm giam (từ ngày 13/9/2023 đến ngày 22/9/2023), bị cáo B còn phải tiếp tục chấp hành 08 (tám) tháng 20 (hai mươi) ngày tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt tù.

1.2 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Nguyễn Quốc H1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Phạm Nguyễn Quốc H1 09 tháng tù. Khấu trừ 04 (bốn) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày thời hạn tạm giữ, tạm giam (từ ngày 13/9/2023 đến ngày 31/01/2024), bị cáo H1 còn phải tiếp tục chấp hành 04 (bốn) tháng 09 (chín) ngày tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt tù.

1.3 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Xuân Đ phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân Đ 09 tháng tù. Khấu trừ 01 (một) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày thời hạn tạm giữ, tạm giam (từ ngày 13/9/2023 đến ngày 07/11/2023), bị cáo L1 còn phải tiếp tục chấp hành 07 (bảy) tháng 04 (bốn) ngày tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt tù.

1.4 Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn L1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo Vũ Văn L1 09 tháng tù. Khấu trừ 01 (một) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày thời hạn tạm giữ, tạm giam (từ ngày 13/9/2023 đến ngày 07/11/2023), bị cáo L1 còn phải tiếp tục chấp hành 07 (bảy) tháng 04 (bốn) ngày tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành hình phạt tù.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy 02 cái ghế bằng gỗ, loại có tựa có đệm ngồi cao 84cm, dài 40cm, rộng 40cm và 10 mảnh vỡ của gạch ống, loại 04 lỗ, không rõ hình dạng, có trọng lượng 1,4kg.

Các vật chứng trên đã được chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04/3/2024.

3. Về bồi thường thiệt hại:

Ông Vũ Ngọc T2 đã nhận tiền bồi thường của các bị cáo B, H1, Đ, L1, không yêu cầu bồi thường chi phí nào khác, Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí:

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Trần Chí B, Phạm Nguyễn Quốc H1, Đỗ Xuân Đ, Vũ Văn L1 phải chịu số tiền án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc.

5. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Vũ Ngọc T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS Tp. Phú Quốc;
  • - Nhà Tạm giữ - CA TP. Phú Quốc;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chung Quốc Hội

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 91/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 91/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tại khu vự Grandworld
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger