Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 191/2024/DS-ST

Ngày: 11 - 6 - 2024

V/v tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang

    Các Hội thẩm nhân dân:

    1. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa;
    2. Ông Nguyễn Văn Sơn.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Lê Hoàng Nhựt – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 78/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2023 về "Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 315/2024/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Ông Lê Văn R, sinh năm 1943;

    Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1948;

    Cùng cư trú: số A, Tổ C, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang

    Người đại diện theo ủy quyền của ông R, bà P là:

    • - Ông Nguyễn Phước H, sinh năm 1997;
    • Cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang
    • - Bà Lâm Tú H1, sinh năm 1997;

Cư trú: số 1238, Ấp 1, xã Tân Mỹ, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

  1. Bị đơn:

    Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1963;

    Hộ khẩu thường trú: Tổ C, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang;

    Cư trú: Tổ 45, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Phước H và bà Lâm Tú H1 vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, bà Nguyễn Thị A vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị P được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp quyền sử dụng đất đối với trên phần đất có diện tích 111,40m² thuộc thửa đất số 101, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại tổ C, ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 302001, số vào sổ H00030fA do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 07 tháng 01 năm 2005. Năm 2010, ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị P đồng ý cho bà Lê Thị D (em ruột của ông R) xây dựng một lán trại nhỏ (kết cấu: nền gỗ, vách lá + tole, mái lá + tole), diện tích 14m² (3,5m x 4m) trên thửa đất số 101 nêu trên. Năm 2019, bà Lê Thị D chết, bà Nguyễn Thị A cho rằng mẹ bà (bà D) đã tặng cho bà Á lán trại này nên thường hay lui tới để quản lý. Ông R, bà P nhiều lần yêu cầu bà Á di dời lán trại để trả lại đất cho ông R, bà P nhưng bà Á không đồng ý di dời.

Do đó, ông R, bà P khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh di d phần lán trại (kết cấu: như Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ) diện tích 13,7m² tại các điểm 29, 18, 29, 30 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh L1 lập ngày 18 tháng 01 năm 2024, để trả lại 13,7m² đất nằm trong thửa đất số 101 nêu trên cho ông R, bà P.

Theo kết quả đo đạc thì căn nhà (lán trại nhỏ) của bà Á có diện tích 15,4m² tại các điểm 17, 18, 19, 20 thì trong đó tại các điểm 29,17, 20, 30 diện tích 1,7m² là phần căn nhà của bà Á nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông R, bà P. Vì vậy, ông R, bà P không có yêu cầu đối với 1,7m² phần nhà này, nhưng xin cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý bà Á. Còn phần nhà 13,7m² tại các điểm 29, 18, 29, 30 thì phải tháo dỡ trả đất lại cho ông R, bà P. Đối với phần đất theo sự chỉ dẫn mốc ranh của bà Á thì ngoài căn nhà tại các điểm 17, 18, 19, 20, phần đất còn lại là đất trống (cây cỏ dại, vụn gạch đá, hố nước bẩn) gia đình ông R, bà P cũng đang quản lý, sử dụng nên ông bà không có tranh chấp; bà Á không có sử dụng phần đất này làm gì.

Bị đơn bà Nguyễn Thị A: Không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ.

Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng đương sự vắng mặt nên không hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

Tại phiên tòa:

  • - Ông Nguyễn Phước H và bà Lâm Tú H1 đại diện cho nguyên đơn vắng mặt và có đơn xin vắng mặt và trình bày: Khi khởi kiện chưa có cơ quan chuyên môn đo đạc nên ông R, bà P yêu cầu bà Á di dời nhà trả lại phần diện tích đất 14m². Sau khi có kết quả đo đạc, ông R, bà P yêu cầu bà Nguyễn Thị Anh di d phần nhà (kết cấu: như Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ) diện tích 13,7m² tại các điểm 29, 18, 29, 30 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh L1 lập ngày 18 tháng 01 năm 2024, để trả lại 13,7m² đất nằm trong thửa đất số 101 nêu trên cho ông R, bà P; rút lại yêu cầu đối với diện tích 0,3m² so với khi khởi kiện.

  • - Bị đơn bà Nguyễn Thị A vắng mặt và không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ.

  • - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

    Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng nhiều lần vắng mặt không lý do, không trình bày ý kiến là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Về nội dung: Căn cứ tài liệu, chứng cứ ông R, bà P cung cấp; giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số H0030fA do Ủy ban nhân dân thành phố L cấp ngày 07 ngày 01 năm 2005 cho ông R, bà P; và tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập: Biên bản xác định ranh giới – mốc giới thửa đất có chủ sử dụng đất kế cận là ông Nguyễn Thành T, Võ Ngọc Đ ký xác nhận. Do đó, trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân thành phố L cho ông R, bà P là đảm bảo theo quy định của Luật đất đai tại thời điểm cấp. Theo quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự, khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai năm 2013, chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản khi bị nguời khác chiếm hữu, sử dụng không hợp pháp và đặc biệt tài sản là quyền sử dụng đất sẽ được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp. Bà Á đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của ông R, bà P, do đó yêu cầu khởi kiện của bà ông R, bà P là có cơ sở chấp nhận: Buộc bà Nguyễn Thị Anh di d phần lán trại (kết cấu: như Tòa án thẩm định) diện tích 13,7m² tại các điểm 29, 18, 19, 30 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh L1 lập ngày 18 tháng 01 năm 2024. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn R, bà Nguyễn Thị P đối với diện tích đất 0,3m².

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, kiểm sát viên, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả lại phần đất nguyên đơn đã được cấp quyền sử dụng đất, nhưng bị đơn chiếm lấy quản lý, sử dụng. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về "Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất" và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng đều từ chối nhận văn bản và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa mà không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung tranh chấp:

[3.1] Xét thấy: Căn cứ vào Bản đồ địa chính khu vực xã M được Sở địa chỉnh tỉnh An Giang duyệt ngày 20 tháng 3 năm 2001; Sổ quản lý địa chính của Ủy ban nhân dân xã M; Đơn đăng ký quyền sử dụng đất của ông Lê Văn R ngày 17 tháng 11 năm 1999, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã M ngày 24 tháng 4 năm 2003 và Phòng Quản lý phát triển đô thị thành phố L ngày 09 tháng 09 năm 2003; Biên bản xác định ranh giới – mốc giới thửa đất ngày 24 tháng 4 năm 2003; Hồ sơ kỹ thuật khu đất ngày 09 tháng 09 năm 2003; Hồ sơ kỹ thuật khu đất ngày 08 tháng 12 năm 2004; xác định ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị P đã sử dụng thửa đất số 101, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại xã M, thành phố L từ trước năm 1975; và được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02760QSDĐ/fA ngày 12 tháng 9 năm 2003 với diện tích là 162m², mục đích sử dụng: Thổ cư, thuộc thửa số 101, tờ bản đồ số 06. Sau khi được xác lập quyền sử dụng, ông R, bà P đã chuyển nhượng cho bà Lê Thị L quyền sử dụng 50,6m² nằm trong 162m² thuộc thửa số 101 nêu trên (được Ủy ban nhân dân thành phố L xác nhận vào ngày 07 tháng 01 năm 2005). Sau khi chuyển nhượng, ông Lê Văn R, bà Nguyễn Thị P được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H00030fA ngày 07 tháng 01 năm 2005 đối với thửa đất số 101, tờ bản đồ số 06, diện tích 111,40m², mục đích sử dụng đất: T, hình thức sử dụng: sử dụng riêng 111,40m², thời hạn sử dụng: Lâu dài, nguồn gốc sử dụng: Công nhận quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng ổn định. Trong quá trình này, hiện trạng thửa đất của ông R, bà P đều không tồn tại căn nhà hoặc tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của bà Lê Thị D (mẹ của bà Á) hoặc bà Nguyễn Thị Anh .

[3.2] Ông R, bà P trình bày năm 2010 ông, bà cho bà Lê Thị D xây dựng căn nhà (loại lán trại) để ở nhờ trên thửa đất của ông, bà. Khi ông R, bà P có yêu cầu tháo dỡ nhà trả đất, thì bị đơn bà Á cho rằng bà đã được mẹ ruột là Lê Thị D tặng cho căn nhà nằm trên thửa đất số 101 và không đồng ý tháo dỡ. Xét thấy: Bà Á biết được sự việc tranh chấp với ông R, bà P nên có tham gia phiên hòa giải do Ủy ban nhân dân xã M, thành phố L tổ chức. Nhưng tại phiên hòa giải, bà Á không lắng nghe giải thích của Hội đồng hòa giải mà lớn tiếng, tự ý bỏ ra về (Biên bản hòa giải tranh chấp đất ngày 06 tháng 01 năm 2023). Khi Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, bà Á thực hiện chỉ ranh đất, hiện trạng tài sản nhưng không đồng ý ký Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ. Mặc dù, biết được sự việc tranh chấp và có những hành vi như vậy, nhưng bà Á không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ phản bác lại ý kiến của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3.3] Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh thành phố L lập ngày 18 tháng 01 năm 2024 thì: Các điểm 1, 2, 3, 4 là phần đất của ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị P được Ủy ban nhân dân thành phố L cấp Giấy chứng nhận số H00030fA. Các điểm 17, 18, 19, 20 là căn nhà (lán trại) do bà Á quản lý, sử dụng có diện tích 15,4m²; trong đó có diện tích 1,7m² tại các điểm 29, 17, 20, 30 là phần căn nhà nằm ngoài Giấy chứng nhận số H00030fA. Diện tích phần nhà còn lại là 13,7m² tại các điểm 29, 18, 19, 30 thì nằm trong thửa đất số 101, tờ bản đồ số 6 mà ông R, bà P đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn nhà này do bà Á quản lý, sử dụng có cấu trúc: nền đất + sàn ván, khung gỗ tạp, vách tol + tấm bạt, mái tol (theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13 tháng 7 năm 2023).

[3.4] Mặt khác, căn cứ Biên bản xác minh ngày 07 tháng 6 năm 2024 thể hiện: Căn nhà diện tích 15,4m² tại các điểm 17, 18 19, 20 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh thành phố L lập ngày 18 tháng 01 năm 2024 đang có tranh chấp, hiện nay đang bỏ trống không ai ở, bà Á không sinh sống nhưng thường xuyên đến trông coi, quản lý, ra vào, khi có ai tranh chấp, phát sinh vấn đề gì liên quan thì bà Á phản đối, cản trở. Từ trước đến nay chỉ có bà Á cản trở tháo dỡ, tranh chấp đối với căn nhà này, ngoài ra không có ai là người thuộc hàng thừa kế của bà Lê Thị D có tranh chấp hoặc quản lý, sử dụng căn nhà này. Bà Lê Thị D có khoảng 06 - 07 người con trong đó có bà Nguyễn Thị Anh . Những người con của bà D (ngoại trừ bà Á) thì không ai có hộ khẩu thường trú, sinh sống ở địa phương. Thông tin cụ thể của hàng thừa kế của bà D (họ tên, năm sinh, địa chỉ) địa phương không xác định được.

[3.6] Từ những nhận định trên, xét thấy: Yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn R, bà Nguyễn Thị P đối với bà Nguyễn Thị A về việc tháo dỡ, di dời nhà trả lại diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông R, bà P là có căn cứ để chấp nhận.

[3.7] Đối với phần diện tích 1,7m² còn lại của căn nhà tại các điểm 29, 17, 20, 30 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai thành phố L lập ngày 18 tháng 01 năm 2024, được xác định nằm trong phần đất giao thông theo Công văn số 3238/UBND-NC ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Ủy ban nhân dân thành phố L. Vì vậy, phần diện tích này của căn nhà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông R, bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết chỉ yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền phải xử lý cả phần diện tích còn lại này của căn nhà. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố L, Ủy ban nhân dân xã M giải quyết, xử lý đối với phần căn nhà diện tích 1,7m² nêu trên, hiện do bà Á quản lý, sử dụng không được cấp giấy phép xây dựng, nằm trên phần đất giao thông do Nhà nước quản lý, sử dụng.

[3.8] Đối với những người thuộc hàng thừa kế của bà D, nếu có tranh chấp về quyền sở hữu căn nhà nêu trên đối với bà Nguyễn Thị A thì được quyền khởi kiện trong vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[3.9] Việc ông R, bà P rút lại yêu cầu đối với diện tích đất 0,3m² so với diện tích 14m² yêu cầu trả lại khi khởi kiện, là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với hiện trạng thực tế và quy định của pháp luật; nên cần đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này.

[4] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản với chi phí là 2.235.920 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu chi phí này. Vì nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí này, nên bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận, nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy bị đơn bà Á là người cao tuổi, nhưng không có đơn yêu cầu được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí nên không được xem xét miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 91, 147, 157, 227, 228, 238, 244, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 105, khoản 2 Điều 164 và khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Khoản 16 Điều 3 và Điều 166 Luật Đất đai 2013;
  • - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị P đối với bà Nguyễn Thị A;

    Buộc bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ liên đới tháo dỡ, di dời toàn bộ căn nhà diện tích 13,7m² tại các điểm 29, 18, 19, 30 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh thành phố L lập ngày 18 tháng 01 năm 2024, có cấu trúc: nền đất + sàn ván, khung gỗ tạp, vách tol + tấm bạt, mái tol (và các tài sản gắn liền với đất, vật kiến trúc, cây trồng khác nếu có tại thời điểm thi hành án) nằm trên thửa đất số 101, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang;

    Để trả lại diện tích đất 13,7m² tại các điểm 29, 18, 19, 30 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh thành phố L lập ngày 18 tháng 01 năm 2024 thuộc thửa đất số 101, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang cho ông Lê Văn R, bà Nguyễn Thị P.

  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị P về việc trả lại diện tích đất 0,3m².

  3. Về chi phí tố tụng:

    Bà Nguyễn Thị A phải chịu chi phí tố tụng nên có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị P số tiền chi phí tố tụng mà ông R, bà P đã nộp tạm ứng là 2.235.920 đồng (hai triệu hai trăm ba mươi lăm nghìn chín trăm hai mươi đồng).

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    • - Ông Lê Văn R và bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí.
    • - Bà Nguyễn Thị A có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo:

    Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND t. An Giang (1);
  • - VKSND tp. Long Xuyên (1);
  • - Chi cục THADS tp. Long Xuyên (1);
  • - Các đương sự (3);
  • - Văn phòng (2);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thùy Giang

8

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Thúy Hoa

Nguyễn Văn Sơn

Nguyễn Thùy Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2024/DS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 191/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger