|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 191/2024/HS-ST. Ngày: 07/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Đời.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hương Thủy;
Ông Phạm Văn Phước.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đ, ông Phạm Văn K – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số: 134/2024/TLST-HS ngày 20/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 167/2024/QĐXXST-HS ngày 04/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2024/QĐST-HS ngày 17/4/2024, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Phan Anh K1, sinh năm 1999. Hộ khẩu thường trú: 101 đường Đ, Tổ D, Khu phố C, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: 117 Đường D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không. Cha tên Phan Cường N (không rõ năm sinh), mẹ tên Bùi Thị Mỹ H (sinh năm 1978); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/8/2023 đến ngày 24/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Bảo Minh K2, sinh năm 2003. Hộ khẩu thường trú: 276 Đường A, Khu phố E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: 276 Đường A, Khu phố E, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Không. Cha tên Nguyễn Quốc Bảo  (không rõ năm sinh), mẹ tên Nguyễn Thị N1 (không rõ năm sinh); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/8/2023 đến ngày 24/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
3. Họ và tên: Huỳnh Tấn Đ1, sinh năm 1989. Hộ khẩu thường trú: 28 đường B, ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: 28 đường B, ấp C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Giao hàng. Cha tên Huỳnh Tấn D (sinh năm 1962), mẹ tên Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1970); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/8/2023 đến ngày 24/10/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
4. Họ và tên: Nguyễn Trọng Thiên P, sinh năm 2003. Hộ khẩu thường trú: 19 Đường E, Khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Không. Cha tên Nguyễn Văn T (sinh năm 1986), mẹ tên Nguyễn Ái T1 (sinh năm 1987); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/8/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
* Người bị hại:
- Bà Bùi Thị Ngọc T2, sinh năm 1997. Địa chỉ: 2 Đường số B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 2001. Địa chỉ: 5 Đường số G, Khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
- Công ty Cổ phần D1. Địa chỉ trụ sở: 405/15 đường X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Lệ Huyền T3, sinh năm 1997. Địa chỉ: 3 Đường số E, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Văn Q1, sinh năm 1983. Địa chỉ: 1 Đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Anh K1 trước đây từng là nhân viên Bưu cục Công ty D1 (Bưu cục). Do không có tiền tiêu xài nên K1 nghĩ ra cách đi trộm hàng tại Bưu cục để bán lấy tiền, K1 gọi điện thoại cho Huỳnh Tấn Đ1 (cũng là nhân viên của Bưu cục), nói chuyện với Đ1 để hỏi thăm về hàng hóa tại Bưu cục, K1 nói với Đ1 hiện tại đang kẹt tiền và hỏi Đ1 có cách nào để K1 lấy hàng trong kho ra bán không thì Đ1 đồng ý và nói hôm nào có hàng nhiều thì sẽ báo cho K1 đến lấy hàng. Sau đó, Đ1 chỉ cho K1 vị trí để chìa khóa của kho hàng tại chậu cây phía trước Bưu cục, công tắc tổng (CI BI) của kho, nếu tắt công tắc thì sẽ tắt hết điện và camera của kho hàng Bưu cục. Khi K1 nói chuyện với Đ1 có mở loa ngoài nên Nguyễn Trọng Thiên P và Nguyễn Bảo Minh K2(Bạn của K1) đang ở nhà K1 chơi, nghe và biết được việc K1 nói chuyện Đ1.
Sáng ngày 23/8/2023, K1 gọi điện cho Đ1 thì được biết hôm nay có nhiều hàng chưa giao phải để qua đêm tại Bưu cục nên Đ1 sẽ để số hàng cho K1 lấy ở khu vực tuyến hàng hóa đi giao của nhân viên. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, K1 gọi điện cho Đ1 để hỏi về tình hình của Bưu cục, sau khi Đ1 báo có thể đến lấy hàng, K1 rủ K2 và P cùng đi trộm tại kho hàng của Bưu cục rồi nói cho P vị trí để hàng Đ1 để nên Phú lắp ba ga và 01 giỏ đựng hàng đã chuẩn bị sẵn vào sau xe mô tô Winner màu trắng (Xe Phú mượn của bạn không rõ biển số) đến Bưu cục để lấy trộm hàng. Sau đó, K1 điều khiển xe mô tô Winner X màu đen, vàng biển số: 59X4-19174 chở K2 đến Bưu cục, khi thấy không còn ai ở Bưu cục, K1 nói P đến mở cửa lấy hàng còn K1 và K2 đứng ngoài cảnh giới.
Theo hướng dẫn của K1, P lấy chìa khóa bưu cục chỗ chậu cây cảnh rồi mở khóa cửa, kéo cửa Bưu cục ra, đi vào trong tắt cầu dao điện. Sau đó, P đi tới vị trí K1 chỉ, lấy 01 gói hàng lớn trong bao tải màu xanh mang ra ngoài, P đổ gói hàng này ra đất rồi chia gói hàng vào 02 bao tải treo ở hai bên giỏ hàng. Tiếp đó, P quay vào vị trí vừa lấy cầm thêm 01 bao tải màu xanh đi ra ngoài, khi đi ra vị trí bàn làm việc của nhân viên, P cầm thêm 01 máy tính xách tay hiệu D2 D830 core 2 Duo của chị Bùi Thị Ngọc T2 (Nhân viên bưu cục), 01 máy tính xách tay hiệu Dell XPS 13 9360 Intel core I5 7Th gen của chị Nguyễn Thị Q (Nhân viên bưu cục), 01 máy in mã vạch hiệu HPRT LPQ80, 01 máy đọc mã vạch hiệu Honeywell 147G của Bưu cục, cho hết vào bao tải rồi để lên giỏ hàng ở xe Winner X màu trắng. Sau khi chất hàng xong, cả ba chạy xe đến bãi đất trống gần cầu R thì K2 đổi xe với P để chở hàng về nhà K1 tại phòng trọ số 2, nhà trọ số A Đường số D, Khu phố E, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này, K1 gọi cho Đ1 nhưng để P nói chuyện với Đ1 thông báo đã lấy được hàng và còn lấy thêm 02 laptop và 01 máy in mã vạch, 01 máy scan. Sau đó, K1 chở P cầm theo hai laptop hiệu DELL đến cầu Cống Đập, Rạch C, phường P, thành phố T thì dừng lại, K1 và P mở 02 laptop ra kiểm tra thấy 01 laptop không lên nguồn, nên K1 vứt bỏ chiếc laptop này tại cầu Cống Đập, cái còn lại đem về nhà K1 để cùng K2 kiểm tra hàng hóa lấy trộm được.
Số hàng hóa các đối tượng lấy trộm được từ Bưu cục như sau: 01 giá treo điện thoại trên xe ô tô; 03 cuốn sách có tiêu đề “bạn đang nhìn gì vậy? 150 năm nghệ thuật hiện đại trong nháy mắt”; 01 kiện hàng mã NS357264708 gồm 01 cuốn sách “Kinh địa tạng bồ tát bổn nguyện”, 01 cuốn Kinh nhân quả ba đời” và 01 cuốn “Chú mãn nguyện đại bi tâm Đ”; 01 cuốn sách “Nhà đầu tư thành công”; 02 chiếc xe đồ chơi cảnh sát; 05 đồ bộ xưởng may “Thủy tiên”; 03 bịch (bao) bánh, kẹo; 01 đôi giày cho bé có chữ N2; 01 mắt kính; 01 túi bao tử màu đen; 01 túi xách màu trắng; 01 chai dầu gội bồ kết; 01 chai dầu gội bưởi non; 02 kem dưỡng da có chữ Heli; 01 máy xông tinh dầu màu trắng có chữ Dolabow; 01 đôi giày sandal cho bé màu hồng; 09 bao thuốc bắc; 01 chai sữa tắm có chữ D-nee kids; 01 thùng (10 chai) sữa tắm cho em bé có chữ Wesser; 01 bịch collagen có chữ Karseell; 01 bộ tóc giả; 04 nước hoa vùng kín có chữ Foellie; 02 hộp kem dưỡng có chữ The Gorgeous; 01 bịch cà phê có chữ Great Coffee; 04 bộ đồ trẻ em có chữ Mimonri; 01 đầm có chữ Sixdo màu vàng; 01 đầm có chữ Sixdo màu xanh lá nhạt; 01 đầm đen có chữ TopLiLi; 01 hộp đóng hàng có chữ Enjoy Life; 01 đầm màu kem sọc đen size L; 01 đầm xám đậm có chữ Narcis; 01 đôi dép màu trắng có chữ Vip Girl; 01 đôi giày đen size C; 01 đôi giày đen size 40; 04 bộ đồ màu đen có chữ R; 01 đầm màu vàng - nhạt – xám, size XL; 05 bộ đồ trẻ em; 01 đầm xanh có chữ G&J YUAN.XI; 01 bộ đồ ngắn màu trắng – đen, size L; 01 bộ độ màu hồng có chữ Fashion; 01 bộ chăn, ga, gối, đệm có dòng chữ “Ấm áp như lòng mẹ”; 01 khăn màu nâu; 03 quần lót nữ; 01 bịch đậu hà lan; 01 bịch rong biển; 01 quần lửng thời trang màu đen, size L; 01 đầm hoa có chữ Xuemimi, size XL; 02 bộ đồ trẻ em màu cam - xanh rằn; 01 quần dài nữ có chữ Emily & A, size L; 01 quần đùi nữ màu đỏ; 01 quần đùi nữ màu tím; 01 đầm dài màu xanh lá, size M; 01 áo thun trắng size 2L; 01 kẹp tóc màu xanh; 01 bộ đồ bộ màu xanh lá có chữ KN, size 4; 01 áo thun đen có chữ Narcis, size S; 01 áo len màu đỏ có chữ R; 01 áo trẻ em cho trẻ 3 tuổi; 01 áo trẻ em cho trẻ 7 tuổi; 01 áo thun dài tay có chữ Ferir; 01 quần tây dài màu xám; 01 áo thun; 01 bao tay dài chống nắng; 01 áo thun màu xanh dương; 01 áo len màu đỏ, size M; 01 áo thun kẻ sọc đen - trắng; 01 áo thun tay dài màu đỏ; 01 bộ đồ bộ màu đỏ có chữ KN, size 04; 01 đồ bộ trẻ em có chữ Drew; 01 quần trẻ em có chữ Drew; 02 quần lửng có chữ H&M; 01 áo thun sọc trắng đen có dòng chữ “Where's Ashley?”; 02 đầm màu hồng có chữ Marc, size M; 01 bộ đồ bộ màu xanh dương có chữ KN, size số 4; 01 đầm dài màu cam có chữ “3T Clothing”; 01 bộ đồ bộ màu vàng có chữ KN, size số 4; 01 đầm màu xanh lá có chữ “3T Clothing”, size L; 01 quần đùi màu tím than; 01 quần trẻ em màu tím; 01 gác baga xe máy bằng thép; 01 sọt (giỏ) đựng đồ kích thước 80x60x60cm bằng nhựa cứng, màu vàng; 01 đôi dép nhựa màu xám có chữ KOLA, 01 nón bảo hiểm màu đen có chữ PLUTO (các vật chứng này sau đây được gọi là Nhóm vật chứng A1).
Ngoài ra còn 07 kiện hàng các bị can K2, K1, P chưa mở ra kiểm tra vì đã ghi số điện thoại của khách nhận.
Sau khi kiểm tra, cả nhóm thống nhất những hàng có số điện thoại của khách nhận thì K2 sẽ đi giao đem tiền về còn những hàng có giá trị thì K1 sẽ đăng lên mạng bán, cái nào dùng được thì để ở nhà K1 cùng nhau sử dụng. Đến khoảng trưa 24/8/2023, hàng có số điện thoại khách nhận được K2 đi giao đem về được 2.350.000 đồng. Khôi nạp số tiền trên vào ví Momo của K2, sau đó chuyển khoản cho K1 2.850.000 đồng (Bao gồm cả tiền của K2) để K1 nói chuyện trả công cho Đ1. K1 gọi cho Đ1 nói chuyện về việc đưa tiền thì Đ1 nói “Có tiền thì đưa triệu, hai triệu cũng được, không thì thôi”. Sau đó, K1 chuyển khoản cho Đ1 1.000.000 đồng qua tài khoản ngân hàng của Đ1 mở tại ngân hàng M1. Laptop còn lại K1 và P đem tới cửa hàng điện thoại “Bảo Minh” ở địa chỉ A Đường số B, phường T, thành phố T. Tại đây, K1 bán cho Võ Văn Q1 được 3.000.000 đồng (Trả bằng tiền mặt). Sau đó, K1 lấy tiền mặt 4.850.000 đồng đưa cho K2 để khôi trả nợ vay ngân hàng.
Qua truy xét, Cơ quan cảnh sát điều tra đã đưa K1, K2, P, Đ1 đồng thời, mời Võ Văn Q1 về trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Nguyễn Trọng Thiên P, Huỳnh Tấn Đ1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, đồng thời giao nộp toàn bộ các vật chứng.
- Theo Kết luận định giá tài sản số 31-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 15/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, thành phố T kết luận: 01 giá treo điện thoại trị giá 343.000 đồng; 03 cuốn sách có tiêu đề “bạn đang nhìn gì vậy? 150 năm nghệ thuật hiện đại trong nháy mắt” tác giả Will Gompertz trị giá 767.000 đồng; 01 kiện hàng gồm 01 cuốn sách “Kinh địa tạng bồ tát bổn nguyện”, 01 cuốn kinh nhân quả ba đời, 01 cuốn chú mãn nguyện đại bi tâm đà la ni trị giá 80.000 đồng; 01 cuốn sách “Nhà đầu tư thành công” nhà xuất bản Hồng Đ2, tác giả William J.O'neil trị giá 296.000 đồng; 02 xe đồ chơi của Công ty B.K3 trị giá 703.000 đồng; 01 chai dầu gội bồ kết hiệu TRESeme trọng lượng 640g trị giá 155.000 đồng; 02 kem dưỡng da hiệu Heli, trọng lượng 30g, hũ trắng, nắp vàng trị giá 219.000 đồng; 01 thùng (10 chai) sữa tắm cho em bé, hiệu Wesser, xuất xứ Hàn Quốc, dung tích 500ml/ chai trị giá 1.013.000 đồng; 04 nước hoa vùng kín hiệu Follie dung tích 10ml, xuất xứ Hàn Quốc trị giá 625.000 đồng; 02 hộp kem dưỡng da cừu non hiệu The Gorgeous, trọng lượng 50 gram xuất xứ Việt Nam trị giá 830.000 đồng; 01 bộ chăn ga, gối, đệm Hanvico Living LV30 chất liệu cotton trị giá 1.303.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 6.334.000 đồng.
Các tài sản còn lại của Nhóm A1 gồm: 05 đồ bộ xưởng may “Thủy tiên”; 03 bịch (bao) bánh, kẹo; 01 đôi giày cho bé có chữ N2; 01 mắt kính; 01 túi bao tử màu đen; 01 túi xách màu trắng; 01 chai dầu gội bưởi non; 01 máy xông tinh dầu màu trắng có chữ Dolabow; 01 đôi giày sandal cho bé màu hồng; 09 bao thuốc bắc; 01 chai sữa tắm có chữ D-nee kids; 01 bịch collagen có chữ Karseell; 01 bộ tóc giả; 01 bịch cà phê có chữ Great Coffee; 04 bộ đồ trẻ em có chữ Mimonri; 01 đầm có chữ Sixdo màu vàng; 01 đầm có chữ Sixdo màu xanh lá nhạt; 01 đầm đen có chữ TopLiLi; 01 hộp đóng hàng có chữ Enjoy Life; 01 đầm màu kem sọc đen size L; 01 đầm xám đậm có chữ Narcis; 01 đôi dép màu trắng có chữ Vip Girl; 01 đôi giày đen size C; 01 đôi giày đen size 40; 04 bộ đồ màu đen có chữ R; 01 đầm màu vàng - nhạt – xám, size XL; 05 bộ đồ trẻ em; 01 đầm xanh có chữ G&J YUAN.XI; 01 bộ đồ ngắn màu trắng – đen, size L; 01 bộ độ màu hồng có chữ Fashion; 01 khăn màu nâu; 03 quần lót nữ; 01 bịch đậu hà lan; 01 bịch rong biển; 01 quần lửng thời trang màu đen, size L; 01 đầm hoa có chữ Xuemimi, size XL; 02 bộ đồ trẻ em màu cam - xanh rằn; 01 quần dài nữ có chữ Emily & A, size L; 01 quần đùi nữ màu đỏ; 01 quần đùi nữ màu tím; 01 đầm dài màu xanh lá, size M; 01 áo thun trắng size 2L; 01 kẹp tóc màu xanh; 01 bộ đồ bộ màu xanh lá có chữ KN, size 4; 01 áo thun đen có chữ Narcis, size S; 01 áo len màu đỏ có chữ R; 01 áo trẻ em cho trẻ 3 tuổi; 01 áo trẻ em cho trẻ 7 tuổi; 01 áo thun dài tay có chữ Ferir; 01 quần tây dài màu xám; 01 áo thun; 01 bao tay dài chống nắng; 01 áo thun màu xanh dương; 01 áo len màu đỏ, size M; 01 áo thun kẻ sọc đen - trắng; 01 áo thun tay dài màu đỏ; 01 bộ đồ bộ màu đỏ có chữ KN, size 04; 01 đồ bộ trẻ em có chữ Drew; 01 quần trẻ em có chữ Drew; 02 quần lửng có chữ H&M; 01 áo thun sọc trắng đen có dòng chữ “Where's Ashley?”; 02 đầm màu hồng có chữ Marc, size M; 01 bộ đồ bộ màu xanh dương có chữ KN, size số 4; 01 đầm dài màu cam có chữ “3T Clothing”; 01 bộ đồ bộ màu vàng có chữ KN, size số 4; 01 đầm màu xanh lá có chữ “3T Clothing”, size L; 01 quần đùi màu tím than; 01 quần trẻ em màu tím; 01 gác baga xe máy bằng thép; 01 sọt (giỏ) đựng đồ kích thước 80x60x60cm bằng nhựa cứng, màu vàng; 01 đôi dép nhựa màu xám có chữ KOLA, 01 nón bảo hiểm màu đen có chữ PLUTO, không đủ cơ sở để tiến hành định giá.
- Theo Kết luận định giá tài sản số 328-KV1/KL-HĐĐGTS ngày 31/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, thành phố T kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu D2 D830 Core 2 Duo 16G giá trị 967.000 đồng; 01 máy in mã vạch hiệu HPRT LPQ80 giá trị 1.267.000 đồng; 01 máy scan hiệu Honeywell 16472G giá trị 4.195.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.429.000 đồng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 328-KV1/KL-HĐĐGTS ngày 31/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, thành phố T kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Dell XPS 13 9360, chip I 5 7TH Gen, ram 8G, ổ cứng 256GB màn hình 13.3 inch giá trị 10.567.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản các bị can chiếm đoạt là: 23.330.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- Số hàng hóa các bị cáo chiếm đoạt của bưu cục (Nhóm A1), 01 máy in mã vạch hiệu HPRT LPQ80, 01 máy scan hiệu Honeywell 16472G, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho Bưu cục theo quy định;
- 01 máy tính xách tay hiệu D2 D830 Core 2 Duo A (Không thu hồi được);
- 01 máy tính xách tay hiệu Dell XPS 13 9360, Intel C 5 7TH Gen, ram 8G, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị Q;
- 01 điện thoại OPPO S9, màu tím đã qua sử dụng, 01 xe mô tô Honda Winner X màu đen vàng biển số 59X4-191.74 (Thu giữ của Nguyễn Bảo Minh K2);
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng (Thu giữ của Huỳnh Tấn Đ1);
- 01 điện thoại di động Xiao mi model M2007J17G màu xám, đã qua sử dụng (Thu giữ của Phan Anh K1);
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Bùi Thị Ngọc T2, Nguyễn Thị Q không yêu cầu gì về dân sự.
- Đại diện theo ủy quyền của Bưu cục - chị Trần Lệ Huyền T3 yêu cầu các bị can bồi thường cho Bưu cục số tiền 54.888.765 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Võ Văn Q1 không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại Cáo trạng số: 146/CT-VKSTPTĐ ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Nguyễn Trọng Thiên P, Huỳnh Tấn Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết là BLHS).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng.
- Các bị cáo Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Nguyễn Trọng Thiên P, Huỳnh Tấn Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình và nhất trí với nội dung truy tố của Viện kiểm sát.
- Đại diện bị hại (Công ty Cổ phần D1) – bà Trần Lệ Huyền T3 trình bày: Tại phiên tòa, bà đã cung cấp cho Hội đồng xét xử các Phiếu ủy nhiệm chi của Ngân hàng B1 thể hiện số tiền mà phía người bị hại đã đền bù cho đối tác liên quan đến số hàng hóa bị các bị cáo chiếm đoạt không thể giao trả theo đúng đơn đặt hàng, bà T3 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và căn cứ các Phiếu ủy nhiệm chi số: 1072830323100500047 ngày 05/10/2023 (số tiền 2.452.000 đồng), Phiếu ủy nhiệm chi số 1072830323092100148 ngày 21/9/2023 (số tiền 1.592.349 đồng), Phiếu ủy nhiệm chi số 1072830323092100131 ngày 21/9/2023 (số tiền 6.672.250 đồng), Phiếu ủy nhiệm chi số 1072830323092100222 ngày 21/9/2023 (số tiền 3.828.000 đồng), Phiếu ủy nhiệm chi số 1072830323091400058 ngày 14/9/2023 (số tiền 1.362.000 đồng), Phiếu ủy nhiệm chi số 1072830323091400029 ngày 14/9/2023 (số tiền 606.000 đồng, Phiếu ủy nhiệm chi số 1072830323090700201 ngày 07/9/2023 (số tiền 40.000 đồng), Phiếu ủy nhiệm chi số 1072830323090700183 ngày 07/9/2023 (số tiền 100.000 đồng), Phiếu ủy nhiệm chi số 1072830323102600158 ngày 26/10/2023 (số tiền 14.861.194 đồng), tổng cộng là 31.513.793 đồng, buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền nêu trên.
- Các bị cáo Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Nguyễn Trọng Thiên P, Huỳnh Tấn Đ1 thừa nhận việc chiếm đoạt các mặt hàng theo đơn đặt hàng của khách dẫn đến Công ty không thể giao hàng đúng thời hạn theo quy định, gây thiệt hại cho Công ty. Do đó, tại phiên tòa, phía đại diện người bị hại thay đổi số tiền yêu cầu bồi thường so với quá trình điều tra vụ án trên cơ sở các Phiếu ủy nhiệm chi mà phía bị hại đã bồi thường cho các đối tác như lời trình bày và yêu cầu của người đại diện số tiền bồi thường là 31.513.793 đồng thì các bị cáo thống nhất đồng ý.
Đồng thời, bị cáo K1, K2, Đ1 trình bày rằng, trong quá trình chuẩn bị xét xử các bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, chủ động tự nguyện nộp số tiền tổng cộng là 7.302.000 đồng (mỗi bị cáo nộp 2.434.000 đồng) vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức để bảo đảm thi hành việc bồi thường cho bị hại. Do đó, khi xem xét phần bồi thường thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận việc các bị cáo đã tự nguyện bồi thường trước số tiền nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội: Sau khi phân tích các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Nguyễn Trọng Thiên P, Huỳnh Tấn Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 56 BLHS, xử phạt các bị cáo Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Huỳnh Tấn Đ1 mỗi bị cáo từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Thiên P 08 (tám) tháng 11 (mười một) ngày tù, thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam, trả tự do cho bị cáo P tại phiên tòa theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại – Công ty Cổ phần D1 số tiền 31.513.793 đồng, ghi nhận việc các bị cáo Đ1, K2, K1 đã bồi thường trước số tiền mỗi bị cáo 2.434.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ đối với 01 xe mô tô Honda Winner X màu đen vàng biển số 59X4-191.74 mà bị cáo K2 dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tôi và các điện thoại di động mà bị cáo Đ1, K1 dùng liên hệ để thực hiện hành vi phạm tội.
Về án phí sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát; người đại diện của bị hại không có ý kiến tranh luận liên quan đến phần trách nhiệm dân sự và không có ý kiến liên quan đến mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo.
- Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, thật sự ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, áp dụng hình phạt với mức án khoan hồng để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo, của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vì động cơ tư lợi, cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 22 giờ 00 phút ngày 23/8/2023, tại kho hàng của Bưu cục thuộc Công ty Cổ phần D1 (địa chỉ: E đường V, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh), Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Nguyễn Trọng Thiên P có hành vi lén lút chiếm đoạt 02 gói hàng (trong đó có tổng cộng 82 các loại mặt hàng khác nhau – Nhóm A1), 01 máy in mã vạch hiệu HPRT LPQ80, 01 máy đọc mã vạh hiệu Honeywell 147G của bưu cục, 01 máy tính xác tay hiệu Dell XPS 13 9360, 01 máy tính xách tay hiệu D2 D830 Core 2 Duo 16G. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 23.330.000 đồng.
Xét hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi lén lút để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân một cách nhanh chóng nên đã nảy sinh ý định và thực hiện hành vi vi phạm như nêu trên. Do đó, hành vi của các bị cáo K1, K2, P thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt là 23.330.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Đối với bị cáo Đ1, tuy không trực tiếp lấy tài sản tại bưu cục nhưng có hành vi giúp sức, chỉ vị trí chìa khóa, cầu dao điện để các bị cáo K1, K2, P vào lấy trộm tài sản, đồng thời bị cáo Đ1 được hưởng lợi từ số tài sản chiếm đoạt được, do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Đ1 là đồng phạm với hành vi trộm cắp tài sản của K1, K2, P theo điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo K1, K2, P, Đ1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo K1, K2, Đ1 quá trình chuẩn bị xét xử đã tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại, do đó các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Xét vụ án có tính chất đồng phạm nhưng giản đơn, bị cáo Đ1 là đồng phạm giúp sức cho các bị cáo K1, K2, P trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội và bị cáo Đ1 được hưởng lợi từ tài sản chiếm đoạt được. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo K1, P, Đ1 phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo theo đề nghị của đại diện Viểm kiểm sát cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật, tạo điều kiện cho các bị cáo lao động để trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Đối với bị cáo P, xét bị cáo phạm tội cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, tuy nhiên bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng nên không đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo theo quy định. Tuy nhiên, bị cáo đã bị tạm giam một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm của mình, do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, cần áp dụng hình phạt tù bằng thời gian tạm giam, tuyên trả tự do cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
[4] Về xử lý vật chứng:
- Đối với các tài sản, vật chứng gồm: 02 gói hàng (trong đó có tổng cộng 82 các loại mặt hàng khác nhau), 01 máy in mã vạch hiệu HPRT LPQ80, 01 máy đọc mã vạh hiệu Honeywell 16472G. Xét thấy quá trình điều tra xác định đây là các tài sản của Công ty Cổ phần D1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, việc giao trả không ai khiếu nại và phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với các tài sản, vật chứng gồm: 01 máy tính xác tay hiệu Dell XPS 13 9360, chip Intel Core5 7Th Gen, ram 8G. Xét thấy quá trình điều tra xác định đây là tài sản chị Nguyễn Thị Q nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu, việc giao trả không ai khiếu nại và phù hợp với quy định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Đối với: 01 điện thoại OPPO S9, màu tím đã qua sử dụng, xét thấy đây là tài sản của K2 không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo K2.
- Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng (thu giữ của Huỳnh Tấn Đ1) và 01 điện thoại di động Xiaomi model M2007J17G màu xám, đã qua sử dụng (thu giữ của Phan Anh K1), xét thấy đây là phương tiện các bị cáo K1, Đ1 dùng để liên lạc trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu sung quỹ theo quy định.
- Đối với: 01 xe mô tô Honda Winner X màu đen vàng biển số 59X4-191.74 (thu giữ của Nguyễn Bảo Minh K2), xét thấy đây là phương tiện mà bị cáo K2, K1 sử dụng trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tịch thu sung quỹ theo quy định.
- Đối với: 01 máy tính xách tay hiệu D2 D830 Core 2 Duo 16G, quá trình điều tra không thu hồi được, bị hại cũng không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại và người liên quan: Bùi Thị Ngọc T2, Nguyễn Thị Q, Võ Văn Q1 đã được giao trả lại tài sản, đã được khắc phục hậu quả nên không có yêu cầu nào khác, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
- Bị hai – Công ty Cổ phần D1 có bà Trần Lệ Huyền T3 là người đại diện hợp pháp có yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 54.888.765 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa bà T3 cung cấp một số tài liệu, chứng cứ chứng minh các thiệt hại và thay đổi yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 31.513.793 đồng. Xét thấy tại phiên tòa, các bị cáo K1, K2, P, Đ1 đồng ý bồi thường số tiền nêu trên, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc các bị cáo có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Công ty Cổ phần D1 số tiền 31.513.793, tương đương mỗi bị cáo bồi thường số tiền 7.878.500 đồng. Xét thấy quá trình chuẩn bị xét xử, các bị cáo Đ1, K2, K1 đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường trước cho bị hại mỗi bị cáo số tiền 2.434.000 đồng, do đó buộc các bị cáo Đ1, K2, K1 còn phải bồi thường tiếp mỗi bị cáo 5.444.500 đồng.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm:
- Các bị cáo Đ1, K2, K1, P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Đ1, K2, K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền buộc phải tiếp tục bồi thường cho bị hại là 5.444.500 đồng, tương đương án phí là 300.000 đồng.
- Bị cáo P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền bồi thường cho bị hại là 7.878.500 đồng, tương đương án phí là 393.925 đồng.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Nguyễn Trọng Thiên P và Huỳnh Tấn Đ1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Phan Anh K1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo M Khôi 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn Đ1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phan Anh K1 cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Bảo M Khôi cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Huỳnh Tấn Đ1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Thiên P 08 (tám) tháng 11 (mười một) ngày tù. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam.
Trả tự do cho bị cáo P tại phiên tòa nếu bị cáo không phạm tội nào khác.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bảo Minh K2: 01 (một) điện thoại OPPO S9, màu tím đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung quỹ đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động Xiaomi model M2007J17G màu xám, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô Honda Winner X màu đen vàng biển số 59X4-191.74.
(Theo Phiếu nhập kho số NK24/241C ngày 06/5/2024 và Biên bản giao nhận tang tài vật số 241C ngày 06/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 357; Điều 586 của Bộ luật Dân sự năm 2015,
- Hoàn trả cho Công ty Cổ phần D1 (Địa chỉ trụ sở: 405/15 đường X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh) số tiền tổng cộng là: 7.302.000 (bảy triệu ba trăm lẻ hai nghìn) đồng, theo các Biên lai số 0026571 ngày 25/4/2024 (người nộp tiền: Nguyễn Bảo Minh K2); Biên lai số 00265772 ngày 25/4/2024 (người nộp tiền: Phan Anh K1); Biên lai số 0026591 ngày 26/4/2024 (người nộp tiền: Huỳnh Tấn Đ1) của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Buộc các bị cáo Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Huỳnh Tấn Đ1 mỗi bị cáo bồi thường cho Công ty Cổ phần D1 số tiền 5.444.500 (năm triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm) đồng. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Thiên P bồi thường cho Công ty Cổ phần D1 số tiền 7.878.500 (bảy triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn năm trăm) đồng. Thanh toán một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu người phải thi hành án chưa trả số tiền trên, thì người phải thi hành án còn phải trả tiền lãi của số tiền gốc chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Buộc các bị cáo Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Nguyễn Trọng Thiên P, Huỳnh Tấn Đ1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Buộc các bị cáo Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Huỳnh Tấn Đ1, mỗi bị cáo phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Buộc bị cáo Nguyễn Trọng Thiên P phải nộp 393.925 (ba trăm chín mươi ba nghìn chín trăm hai mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Các bị cáo Phan Anh K1, Nguyễn Bảo Minh K2, Nguyễn Trọng Thiên P, Huỳnh Tấn Đ1; bị hại – Công ty Cổ phần D1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
(Đã giải thích về chế định án treo cho các bị cáo)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Đời |
Bản án số 191/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 191/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Anh Kiệt trộm cắp tài sản
