|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 191/2023/HS-ST Ngày 03-11-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Môn.
- Ông Nguyễn Văn Bảng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2023 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 185/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T, sinh năm 1997 tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn S, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1968 và bà Khổng Thị C, sinh năm 1965; Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con út; Bị cáo có vợ là Vi Thị Đ1, sinh năm 2001 và có 2 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B.
(Có mặt tại phiên tòa)
- * Bị hại: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lê Quang T1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Số nhà C, đường B, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Đinh Xuân K, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1975 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Số E, đường H, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T, sinh năm 1997, trú tại thôn S, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1993, trú tại xóm A, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ có mối quan hệ quen biết nhau. Khoảng 18 giờ ngày 28/6/2023, chị H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150iBKS 98G1-066.18 đến nhà T chơi. T đã nảy sinh ý định mượn chiếc xe mô tô của chị H rồi đem đi cầm cố lấy tiền trả nợ và chi tiêu cá nhân. T nói với chị H cho mượn xe để đi lấy đồ ăn. Chị H tưởng thật nên đồng ý và đưa chìa khóa xe cho T. Sau khi được chị H cho mượn xe mô tô, T điều khiển xe đi đến nhà anh Lê Quang T1, sinh năm 1992, trú tại số nhà C, đường B, phường L, thành phố B nói với anh T1 là xe của T mang đi bán nhưng chưa được giá nên gửi nhờ. Sau đó, T bắt taxi về nhà. Trên đường về, T vào quán bia tại thôn S, xã Đ, thành phố B mua đồ ăn mang về ăn cùng chị H. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, chị H hỏi T về chiếc xe thì T nói dối là để xe ở quán của anh rể. Chị H nghi ngờ nên gặng hỏi thì T nói đã cắm xe và hứa hẹn ngày hôm sau sẽ chuộc lại để trả chị H.
Khoảng 10 giờ ngày 29/6/2023, T đến nhà anh T1 lấy xe mô tô BKS 98G1-066.18 để mang đi bán. Do trước đó T có nợ anh T1 47.050.000 đồng nên T nhờ anh T1 cùng đi bán xe rồi sẽ trả nợ thì anh T1 đồng ý. T điều khiển xe mô tô BKS 98G1-066.18 chở anh T1 đi đến cửa hàng mua bán xe máy của anh Đinh Xuân K, sinh năm 1993 ở thôn N, xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Anh T1 đứng đợi ở ngoài còn T đi vào trong cửa hàng gặp anh K đặt vấn đề bán chiếc xe mô tô BKS 98G1-066.18. T nói với anh K chiếc xe này do T mua lại và cho anh K xem giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và bản photo giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Đ2 lấy từ trong cốp xe. Anh K đồng ý mua với giá 60.000.000 đồng. T viết giấy cam kết bán xe mô tô rồi đưa cho anh K. Sau đó, anh K chuyển khoản 50.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V số 0731000924007 đến tài khoản Ngân hàng TMCP B số 06070410008950 của T và đưa cho T 10.000.000 đồng tiền mặt. Sau đó, T chuyển khoản từ tài khoản của T đến tài khoản ngân hàng M số 0335113000 của anh T1 trả nợ 02 lần với tổng số tiền là 47.050.000 đồng; số tiền còn lại T chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 05/7/2023, chị H làm đơn trình báo. Cơ quan điều tra triệu tập Phạm Văn T đến làm việc thì T đầu thú và giao nộp 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6s số IMEI: 355680074076100, gắn sim số 0364.427.567.
Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra dữ liệu điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax của chị Nguyễn Thị H, kết quả tại mục tin nhắn đến và đi với tài khoản zalo “Tuấn Idol” có các tin nhắn thể hiện việc chị H yêu cầu T chuộc xe để trả. Cơ quan điều tra cho T xem nội dung tin nhắn trên, kết quả T khẳng định các tin nhắn trên là do T sử dụng tài khoản zalo của T nhắn tin với chị H.
Cơ quan điều tra kiểm tra dữ liệu điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu Iphone 6s của T thấy có tin nhắn SMS nội dung thông báo giao dịch tiền của tài khoản ngân hàng B1.
Cùng ngày, anh Đinh Xuân K đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô BKS 98G1-066.18, nhãn hiệu Honda SH, màu đen; 01 giấy cam kết bán xe máy đề ngày 29/6/2023; 01 bản photo chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn Đ2; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô. Cơ quan điều tra đã cho anh K nhận dạng ảnh của T. Kết quả anh K nhận ra T đã bán xe mô tô cho anh K vào ngày 28/6/2023.
Kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐĐG ngày 14/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận:
01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda SH 150i, màu sơn đen, biển kiểm soát 98G1-066.18, đăng ký lần đầu ngày 13/6/2019, mua cũ tháng 6/2021, xe đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm ngày 28/6/2023 là 60.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký của Phạm Văn T trên giấy cam kết bán xe máy đã thu giữ. Bản kết luận giám định số 1414/KL-KTHS ngày 02/8/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
- “- Phòng K2 không kết luận giám định các chữ số “9”, “6” tại mục “Ngày...tháng...năm” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) do bị sửa chữa nội dung.
- - Chữ ký dạng chữ viết, chữ viết trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A – trừ chữ số bị sửa chữa nội dung tại mục “Ngày...tháng...năm”) so với chữ ký, chữ viết của Phạm Văn T trên các tài liệu mẫu (ký hiệu M1, M2, M3) là do cùng một người ký, viết ra.”
Cơ quan điều tra đã đề nghị Ngân hàng TMCP B cung cấp thông tin chủ tài khoản ngân hàng và sao kê giao dịch của tài khoản ngân hàng TMCP B, số tài khoản 06070410008950. Kết quả xác định, chủ tài khoản là Phạm Văn T, các giao dịch chuyển khoản phù hợp với lời khai của T, anh K, anh T1 và kết quả kiểm tra điện thoại di động của T.
Về xử lý vật chứng: Ngày 27/7/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 mô tô BKS 98G1-066.18 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô, nhãn hiệu Honda SH 150i, màu sơn đen, biển kiểm soát 98G1-066.18 cho chị H là chủ sở hữu hợp pháp.
Về trách nhiệm dân sự: Chị H không yêu cầu bồi thường, anh K yêu cầu T bồi thường số tiền 60.000.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 194/CT-VKS ngày 09 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa nhất trí và không có ý kiến gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2022. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự, Buộc bị cáo phải bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đinh Xuân K số tiền 60.000.000 đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 số IMEI 355680074076100, gắn số sim 0364.427.567 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức được hành vi của bản thân là sai, xin được hưởng mức án nhẹ nhất để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
- Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 28/6/2023, Phạm Văn T dùng thủ đoạn gian dối mượn của chị Nguyễn Thị H chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 150i BKS 98G1-066.18, trị giá 60.000.000 đồng sau đó mang xe đi bán cho anh Đinh Văn K1 được 60.000.000 đồng sử dụng chi tiêu. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc xe mô tô và trả lại cho người bị hại. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.
- Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn để đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt và không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo xin đầu thú. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đinh Xuân K số tiền 60.000.000 đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 số IMEI 355680074076100, gắn số sim 0364.427.567 do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đối với anh Đinh Văn K1 mua chiếc xe mô tô do T bán. Anh Lê Quang T1 cùng T đi bán chiếc xe trên nhưng đều không biết là tài sản do T phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.
- Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; khoản 1 và khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 02 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đinh Xuân K số tiền 60.000.000 đồng.
- Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 số IMEI 355680074076100, gắn số sim 0364.427.567 nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 191/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 191/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
