Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 191/2025/LĐ-ST

Ngày: 15 – 4 – 2025

V/v tranh chấp hợp đồng lao động

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tố Uyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Thu Yến – Nguyên Phó Trưởng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Thuận An;
  2. Bà Nguyễn Thị Tuý Phượng – Nguyên cán bộ Phòng Tài chính thành phố Thuận An.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Giang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.

Vào ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm vụ án lao động thụ lý số 386/2024/TLST-LĐ ngày 21/11/2025 về “tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 167/2025/QĐXXST-LĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Mai P, sinh năm 1996; địa chỉ thường trú: Ấp L, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH M; địa chỉ: Lô E, đường số B, Khu Công nghiệp Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo pháp luật: Ông WU KAO SHUNG. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Lâm Thị Cẩm L, sinh năm 2001; địa chỉ thường trú: Ấp L, xã Đ, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: Nhà trọ Trương Văn T, Tổ A, khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
  • + Bảo Hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương; trụ sở: Khu T, thành phố D, tỉnh Bình Dương - người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Quốc D - Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Dương Văn T1, sinh năm 1988; địa chỉ: A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (theo Giấy uỷ quyền số 16 ngày 24/02/2025). Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*) Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Mai P trình bày:

Do có nhu cầu rút bảo hiểm nên bà có đến liên hệ với Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương để rút bảo hiểm theo đúng quy định. Sau đó, bà được Bảo hiểm xã hội thành phố D, tỉnh Bình Dương thông báo thời điểm từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 09 năm 2019 bà có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH M nên Công ty TNHH M có thực hiện đóng bảo hiểm lao động cho bà vào thời gian trên. Tuy nhiên, trên thực tế khoảng thời điểm nêu trên bà đang làm việc cho Công ty Cổ phần Ụ tại Thành phố Hồ Chí Minh nên cùng một khoảng thời gian nhưng bà được hai công ty cùng đóng bảo hiểm. Do đó, đến nay bà không thể rút bảo hiểm xã hội theo đúng quy định được.

Nguyên nhân sự việc như sau: Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bà Lâm Thị Cẩm L là e họ của bà muốn đi làm kiếm thu nhập phụ giúp gia đình nhưng do chưa đủ tuổi ký kết hợp đồng lao động nên bà có cho Lâm Thị Cẩm L mượn giấy chứng minh nhân dân của mình để làm hồ sơ xin việc. Sau đó bà Lâm Thị Cẩm L được Công ty TNHH M ký kết hợp đồng lao động với tên của bà (Mai P) và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của bà từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 09 năm 2019 thì nghĩ việc.

Nhận thấy, việc ký kết hợp đồng lao động giữa Lâm Thị Cẩm L và Công ty TNHH M là sai quy định, đã vi phạm quyên tắc trung thực, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà được pháp luật bảo vệ.

Do đó, bà làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giải quyết:

Tuyên Hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên là Mai P (do Lâm Thị Cẩm L là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH M trong khoảng thời gian làm từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 09 năm 2019 là vô hiệu toàn bộ.

Việc cho bà Lâm Thị Cẩm L sử dụng chứng minh nhân dân của nguyên đơn để làm việc tại Công ty TNHH M dẫn đến việc trùng lặp quá trình đóng bảo hiểm xã hội là do lỗi của nguyên đơn nên nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí lao động sơ thẩm.

Quá trình tố tụng, nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện.

Chứng cứ, tài liệu nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện: Bản sao CCCD, Sổ Bảo hiểm xã hội và Công văn xác nhận quá trình tham gia BHXH.

*) Bị đơn Công ty TNHH M trình bày:

Qua kiểm tra thì bị đơn xác đình từ tháng 8/2017 đến tháng 9/2019 bị đơn có ký hợp đồng lao động bà Lâm Thị Cẩm L nhưng với tên tuổi của bà Mai P. Quá trình bà Lâm Thị Cẩm L làm việc tại Công ty, do số lượng nhân công nhiều nên Công ty không biết được bà Lâm Thị Cẩm L mượn giấy tờ của bà Mai P để làm hồ sơ xin việc vào công ty nên vẫn thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hiểm cho bà Lâm Thị Cẩm L (với tên ký hợp đồng là Mai P) theo quy định của pháp luật bảo hiểm. Sau khi bà Lâm Thị Cẩm L nghĩ việc, công ty đã thực hiện chi trả đầy đủ các chế độ cho bà Lâm Thị Cẩm L theo quy định. Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì công ty đồng ý tuyên Hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên là Mai P (do Lâm Thị Cẩm L là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH M trong khoản thời gian làm từ tháng 8/2017 đến tháng 9/2019 là vô hiệu toàn bộ. Bị đơn không yêu cầu phản tố trong vụ án và không yêu cầu đối với những khoản bảo hiểm đã chi trả cho cơ quan bảo hiểm xã hội cho bà Lâm Thị Cẩm L bằng tên Mai P.

*) Quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Cẩm L trình bày:

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định từ tháng 8/2017 có mượn chứng minh nhân dân của bà Mai P làm hồ sơ xin việc và được tuyển dụng vào Công ty TNHH M với tên Mai P, được Công ty tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định. Đến tháng 9/2019 bà Lâm Thị Cẩm L nghĩ việc tại Công ty TNHH M. Sau khi nghĩ việc, bà Lâm Thị Cẩm L đã được chốt sổ bảo hiểm xã hội nhưng chưa thực hiện các thủ tục hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định. Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà Mai P thì bà Lâm Thị Cẩm L đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật, bà Lâm Thị Cẩm L không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng, không yêu cầu độc lập trong vụ án, từ chối nhận các quyền lợi liên quan đến quá trình tham gia bảo hiểm xã hội theo Hợp đồng ký kết với Công ty TNHH M với tên Mai P, đồng thời bà Lâm Thị Cẩm L yêu cầu giải quyết vắng mặt trong các phiên tòa xét xử đối với vụ án.

*) Đại diện hợp pháp của Cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố D có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và có ý kiến trình bày như sau:

- Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH M cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Mai P, sinh năm 1996, số CCCD [...], số CMND [...], với mã số BHXH 7416127214 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 08/2017 đến tháng 09/2019 đã chốt sổ BHXH, chưa nhận trợ cấp BHXH một lần, chưa nhận trợ cấp thất nghiệp.

Đối với các yêu cầu khởi kiện của bà Mai P thì Bảo hiểm xã hội thành phố D không có ý kiến.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An trình bày:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    • [1.1] Về sự vắng mặt của các đương sự:
    • Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

    • [1.2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
    • Nguyên đơn khởi kiện bị đơn là Công ty TNHH M; địa chỉ: Lô E, đường số B, Khu Công nghiệp Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu. Căn cứ khoản 5 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2019 xác định quan hệ pháp luật “tranh chấp về hợp đồng lao động” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.

  2. Căn cứ vào chứng cứ bị đơn cung cấp, kết quả tra cứu, đối chiếu dữ liệu tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ-BNN) của Công ty TNHH M và lời khai của các đương sự thể hiện:

    Công ty TNHH M có tham gia bảo hiểm xã hội cho bà Mai P trong khoảng thời gian từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 09 năm 2019. Theo dữ liệu do BHXH thành phố D cung cấp thể hiện mức lương chính và mức đóng BHXH tương ứng với từng mốc thời gian. Do đó, có căn cứ xác định bà Lâm Thị Cẩm L có ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M trong khoảng thời gian từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 09 năm 2019.

  3. Về nội dung vụ án:
    • [3.1] Quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động Mai Phơi như sau:
    • Mã số Bảo hiểm xã hội 7416127214 tham gia từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 09 năm 2019 tại Công ty TNHH M.

      Mã số BHXH 9422685855 tham gia từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 12 năm 2019 tại Công ty Cổ phần Ụ.

    • [3.2] Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho thấy: Bà Lâm Thị Cẩm L do không hiểu biết pháp luật, hoàn cảnh gia đình khó khăn, mong muốn có thu nhập để giúp đỡ gia đình nên đã mượn chứng minh nhân dân của bà Mai P ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH M từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 09 năm 2019. Khi ký kết hợp đồng lao động cũng như quá trình làm việc, bà Lâm Thị Cẩm L cố tình che dấu việc sử dụng hồ sơ xin việc giả nên công ty không phát hiện nên vẫn ký hợp đồng và tham gia BHXH, BHYT, BHTN đầy đủ cho người lao động thể hiện tại Sổ bảo hiểm xã hội số 7416127214.

      Thực tế, trong khoảng thời gian trên, bà Mai P đang làm việc tại Công ty Cổ phần Ụ và được Công ty Cổ phần Ụ tham gia bảo hiểm xã hội theo Sổ BHXH số 9422685855, dẫn đến việc bà Mai P trong cùng một khoảng thời gian được hai Công ty tham gia bảo hiểm xã hội.

    • [3.3] Việc bà Lâm Thị Cẩm L sử dụng chứng minh nhân dân, thông tin của bà Mai P để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH M là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994.
    • [3.4] Do đó, bà Mai P yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng lao động giữa bà Mai P (do bà Lâm Thị Cẩm L mượn tên) với Công ty TNHH M trong khoảng thời gian từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 09 năm 2019 là có căn cứ theo quy định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.
    • [3.5] Nguyên đơn chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu; bị đơn, không yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu độc lập trong vụ án. Mặc dù các đương sự đã được Tòa án giải thích về hậu quả của hợp đồng vô hiệu và quyền yêu cầu nhưng các đương sự không yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Tòa án không xem xét giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Sau khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, người lao động có quyền liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định.
  4. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.
  5. Án phí lao động sơ thẩm:

    Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 5, 32, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Các Điều 127 và Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Các Điều 9 Bộ luật Lao động năm 1994; Điều 50 và Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019;
  • Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai P về việc “Tranh chấp về hợp đồng lao động” đối với Công ty TNHH M.
  2. Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Mai P (do bà Lâm Thị Cẩm L ký kết) và Công ty TNHH M trong thời gian từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 09 năm 2019 vô hiệu.
  3. Về hậu quả của hợp đồng vô hiệu:

    Cơ quan BHXH có thẩm quyền thực hiện các chế độ BHXH đối với bà Mai P, sinh năm 1996, số CCCD [...], số CMND [...], số Sổ BHXH 9422685855 theo quy định pháp luật.

    Các bên có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Bảo hiểm xã hội để thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

  4. Về án phí lao động sơ thẩm:

    Bà Mai P tự nguyện chịu 300.000 đồng, khấu trừ toàn bộ vào tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005319 ngày 28/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Bảo hiểm xã hội thành phố Dĩ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2025/LĐ-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng lao động

  • Số bản án: 191/2025/LĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng lao động
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho mượn CMND làm hồ sơ xin việc dẫn đến trùng sổ bảo hiểm xã hội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger