TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 191/2025/HS-ST Ngày: 26-6-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thảo Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bính, bà Lưu Thị Thôi
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Anh Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 343/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Bùi Văn S (tên gọi khác: T), sinh ngày 24 tháng 5 năm 1963 tại Bình Thuận
HKTT: khu phố 2, phường Đức Thắng (nay là phường Lạc Đạo), thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: khu phố 1, phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); chung sống như vợ chồng với bà Đào Thị Thanh P; có 07 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt ngày 20/12/2024 (theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 20/12/2024), được trả tự do ngày 29/12/2024, bị bắt tạm giam ngày 11/02/2025 (theo Biên bản bắt bị can để tạm giam ngày 11/02/2025) hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 20/12/2024, Bùi Văn S điều khiển xe mô tô biển số 86F3-5471 đi đến khu vực V thuộc khu phố A, phường B, thành phố P để chạy xe ôm thì có một người tên N (không rõ nhân thân) là bạn ngoài xã hội của S đến hỏi S có nhu cầu bán ma túy kiếm lời không, S đồng ý. Lúc này, N đưa cho S 02 gói nylon, không màu, hàn kín, có khóa nhựa kéo một đầu, bên trong có chứa ma túy loại Cỏ mỹ. S cầm 02 gói ma túy này rồi hỏi N bao nhiêu tiền thì N nói 15.000 đồng/ 1 gói, N đưa cho S 02 gói nên S đưa cho N 30.000 đồng rồi N bỏ đi. Sau khi mua được ma túy, S cất vào trong cốp xe mô tô biển số 86F3-5471 rồi ngồi chơi tại công viên và chờ có ai hỏi mua ma túy loại mỏ mỹ thì S bán. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì Trần Thanh H đi đến gặp S và hỏi mua ma túy loại Cỏ mỹ của S, S nói 30.000 đồng một gói thì H đồng ý. Sau đó, S lấy từ cốp xe mô tô biển số 86F3-5471 của S ra 01 gói ma túy loại Cỏ mỹ đưa cho H, H nhận gói ma túy này rồi đưa cho S 29.000 đồng và nói với S chỉ còn 29.000 đồng. Thấy vậy, S đồng ý bán và nhận 29.000 đồng từ H. Sau khi mua được ma túy, H cầm gói ma túy loại Cỏ mỹ trên tay trái chuẩn bị rời đi thì bị Công an phường B tuần tra phát hiện nên đã đưa H và S cùng toàn bộ tang vật về trụ sở để làm việc, tại đây S và H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên. S khai nhận số ma túy thu giữ từ H và trong cốp xe của S là của S tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời.
Vật chứng của vụ án:
- Thu giữ trên tay trái của Trần Thanh H: 01 gói nylon không màu, hàn kín, có khóa nhựa kéo một đầu kích thước khoảng (5 x 8)cm bên trong chứa nhiều vụn thảo mộc khô (Ký hiệu M1 khi gửi giám định).
- Thu giữ từ Bùi Văn S:
- T2 trong cóp xe mô tô biển số 86F3-5471: 01 gói nylon không màu, hàn kín, có khóa nhựa kéo một đầu kích thước khoảng (5 x 8)cm bên trong chứa nhiều vụn thảo mộc khô (Ký hiệu M2 khi gửi giám định).
- Tiền Việt Nam: 29.000 đồng;
- 01 chiếc xe mô tô loại Dream biển số 86F3-5471.
Tại Bản kết luận giám định số 7865/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phân Viện khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,9898 gam là ma tuý loại MDMB-BUTINACA.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,7811 gam là ma tuý loại MDMB-BUTINACA.
Không hoàn lại đối tượng giám định: M1 đã sử dụng hết cho công tác giám định.
Tại kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 28/02/2025 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận:
- Tại thời điểm giám định số khung, số máy xe mô tô biển số 86F3-5471; số loại: Dream màu đen, thấy: Các dãy số hiện tại trên số khung, số máy không tẩy xóa, đóng đục. Số khung là: CT-TD100W-97-000331; số máy là: C100MSE-1074207;
- Không giám định biển số thật, giả.
Xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc xe mô tô biển số 86F3-5471, quá trình điều tra đã xác định do bà Bùi Thị L đứng tên chủ sở hữu. Bà L mua và đứng tên chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên từ năm 2008 cho đến nay. Vào ngày 20/12/2024, bà L cho S mượn chiếc xe trên để đi công việc, việc S sử dụng chiếc xe trên tàng trữ ma túy để bán thì bà L không biết nên Cơ quan CSĐT đã trả lại xe mô tô trên cho bà L.
- Đối với số tiền 29.000 đồng thu giữ từ S là tiền thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý cho H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết để bảo quản, chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 105/CT-VKSPT-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố bị cáo Bùi Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 29.000 đồng.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo cho rằng bị cáo bị đánh đập trong quá trình điều tra. Bị cáo đã được giải thích quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ thể hiện qua Biên bản giải thích quyền, nghĩa vụ của người bị tạm giữ. Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của bị cáo không có căn cứ, bị cáo không chứng minh được có việc bức cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Căn cứ xác định tội danh và buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 20/12/2024, tại khu vực V thuộc khu phố A, phường B, thành phố P, Bùi Văn S đã có hành vi bán trái phép 0,9898 gam là ma tuý loại MDMB-BUTINACA với giá 30.000 đồng cho Trần Thanh H.
Ngoài ra, Bùi Văn S còn tàng trữ 0,7811 gam là ma tuý loại MDMB-BUTINACA trong cốp xe mô tô biển số 86F3-5471 nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị Công an phường B, thành phố P phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, tổng số ma túy S tàng trữ nhằm mục đích bán kiếm lời là: 1,7709 gam ma túy loại MDMB-BUTINACA.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Bùi Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.
- Về nhận thức hành vi, tính chất phạm tội: Bị cáo Bùi Văn S có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Văn S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Trên cơ sở cân nhắc tính chất mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Hiện nay, tội phạm về ma túy đang là vấn nạn nhức nhối của xã hội, không những hủy hoại sức khỏe, làm ảnh hưởng đến giống nòi, mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết về mức áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là hợp lý.
- Về xử lý vật chứng: Số tiền 29.000 đồng là tiền thu lợi bất chính, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/02/2025, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 20/12/2024 đến ngày 29/12/2024.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 29.000 đồng (Số tiền 29.000 đồng đã được nộp vào tài khoản số 3949.0.1054627 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết tại Kho bạc nhà nước theo Giấy nộp tiền số ngày 10/6/2025 của Ngân hàng TMCP N1).
- Về án phí:
Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Văn S có nghĩa vụ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/6/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Thảo Nguyên |
6
Bản án số 191/2025/HS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 191/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
