Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2025/HS-ST

Ngày: 19/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tự Sinh

Thẩm phán: Ông Trần Minh Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Long

Ông Đoàn Ngọc Đăng

Bà Trần Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thảo Nguyên- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 171/2025/TLHS-ST ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 188/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:

NGUYỄN THẾ NHẬT TRƯỜNG; sinh ngày 29 tháng 6 năm 1986, tại Đà Nẵng; nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (nay thôn T, xã B, thành phố Đà Nẵng); nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Nguyễn Thế T và bà Phạm Thị M; có vợ là Nguyễn Thị Kim L và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 24/11/2024; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1: Ông Nguyễn Huy V- Luật sư, Công ty L2; có mặt.

- Bị hại: Anh Hoàng Ngọc K, sinh năm 1982; trú tại: Thôn T, xã H, TP Đà Nẵng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Mỹ T2; sinh năm 1988; trú: thôn Y, xã H, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
  2. Chị Phạm Thị Thu S; sinh năm 1981; trú thôn P, xã H, huyện H (nay xã B, thành phố Đà Nẵng); có mặt.
  3. Anh Lê Minh H; sinh năm: 1997; trú: thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Đ, thành phố Đà Nẵng); có mặt.
  4. Anh Cao Duy T3; sinh năm: 1994; trú thôn T, xã H, huyện H (nay là xã H, thành phố Đà Nẵng); vắng mặt.
  5. Chị Lê Thị Đ; sinh năm 1975; trú thôn T, xã H, huyện H (nay là xã H, thành phố Đà Nẵng); vắng mặt.
  6. Ông Nguyễn Thế T; sinh năm 1952; trú tại thôn T, xã B, thành phố Đà Nẵng; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn Nam; sinh năm 1984; trú thôn tại P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng (nay là xã B, thành phố Đà Nẵng); có mặt.
  2. Chị Lư Thị Ngọc L1; sinh năm 1984, trú tại thôn P, xã H, huyện H (nay là xã B, thành phố Đà Nẵng); có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/11/2024, Nguyễn Thế Nhật T1 đến nhà ông Phạm P (sinh năm 1970; trú thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, nay là xã B, thành phố Đà Nẵng), là cậu ruột của T1 để nhậu cùng với ông P; anh Nguyễn Văn N; anh Phạm Quốc C (trú thôn P, xã B, thành phố Đà Nẵng); anh Lê Minh H và chị Lư Thị Ngọc L1, là vợ của Nguyễn Văn N.

Cả nhóm nhậu đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày thì T1 liên lạc với anh Phạm Tấn H1 (sinh năm 1989; trú: thôn T, xã H, huyện H; nay là xã H, thành phố Đà Nẵng) để hẹn gặp nói chuyện vì trước đó nhà mẹ vợ của H1 bị người khác tạt chất bẩn, ngoài ra, em vợ của H1 là Cao Duy T3 có nợ tiền em họ của T1 là Phạm D (sinh năm: 1988; trú thôn P, xã B, thành phố Đà Nẵng). T1 đi đến quán B1 (địa chỉ thôn T, xã H, thành phố Đà Nẵng) gần nhà anh Phạm Tấn H1 thì T1 không gặp anh H1 mà chỉ thấy trong quán có T3 đang ngồi và chủ quán là anh Hoàng Ngọc K1.

Do giữa T1 và anh K1 đã có mâu thuẫn từ trước, cụ thể: Khoảng tháng 10/2024, T1 đi cùng với D đến nhà T3 (đối diện quán B1) để đòi nợ, do thấy cãi nhau nên anh K1 có đến cầm dao sau lưng dọa T1, mỗi lần T1 đi ngang qua quán anh K1 thì anh K1 hay chế giễu T1. Vì vậy, khi T1 đến quán anh K1 tìm H1 thì giữa anh K1 và T1 có cãi nhau nhưng sau đó T1 bỏ đi qua nhà anh H1 (cách quán B1 khoảng 04 - 05 nhà). T1 gặp anh H1 nói chuyện một lúc, rồi bỏ đi.

Trường quay lại nhà ông Phạm P tiếp tục nhậu. Trong lúc nhậu, T1 nhớ lại việc K1 vừa khiêu khích nên T1 nảy sinh ý định cầm dao qua đâm anh K1. Lúc này, T1 giả vờ đi vệ sinh rồi qua nhà chị Phạm Thị Thu S, là em họ của T1, gần nhà ông P. T1 đi vào phòng bếp lấy một con dao dài khoảng 20 cm, có cán bằng gỗ màu xám dài khoảng 10 cm, phần lưỡi dao bằng sắt màu trắng đã cũ dài khoảng 10 cm; bỏ vào lưng quần. Sau đó, Trường quay lại nhà ông P để lấy xe. Lúc này, anh H nhìn thấy T1 đang dắt xe máy hiệu Yamaha Luvias màu trắng - đỏ, biển kiểm sát 43K1 - 062.59 thì nghĩ T1 đi về nên H đề nghị chở T1 về thì T1 đồng ý. Anh H vừa điều khiển xe chở T1 rời đi thì anh Nguyễn Văn N nhìn thấy nên đi theo. Chị L1 thấy anh N đi ra ngoài nên lên xe đi cùng anh N. Trên đường đi, T1 chỉ đường cho anh H chạy xe đến quán B1 Khi đi đến trước quán B1 thì anh H đứng chờ ở ngoài. T1 đi đến trước sân quán nói với anh K1 “mi ra đây” thì anh K1 nói với T1 “mi chờ ta tí” và anh K1 tiếp tục chuẩn bị đồ ăn cho khách. Lúc này, trong quán vắng khách. Sau khi chờ một lúc không thấy anh K1 ra thì T1 đi vào trong quán tiến đến gần anh K1. Anh K1 thấy vậy, lấy một cây kéo cầm tay và đi lùi vào sâu bên trong quán. T1 áp sát anh K1 rồi lấy tay trái kẹp cổ anh K1 và dùng tay phải cầm dao đâm mạnh vào ngực trái của anh K1. T1 tiếp tục dùng dao đâm mạnh về phía ngực của anh K1 nhưng lúc này anh K1 đã dùng hai tay giữ chặt tay cầm dao của T1 nên T1 không đâm được. Anh Nguyễn Văn N xông vào để can ngăn thì bị chị L1 kéo lại ra khỏi quán. T1 và anh K1 giằng co với nhau thì T1 bị cây kéo trên tay anh K1 đâm trúng vào cánh tay trái. Anh H thấy hai bên giằng co thì tiến tới lấy cây kéo trên tay anh K1 đặt qua một bên và tiếp tục can ngăn anh K1 và T1. Chị Lê Thị Đ là vợ anh Hoàng Ngọc K1 thấy vậy thì cầm một con dao chặt lớn đưa lên cao nhằm uy hiếp T1 buông anh K1 ra. Anh K1 thấy anh Cao Duy T3 thì nói anh T3 lấy con dao từ tay của T1 ra. Khi anh T3 vừa tiến lại gần, Trường quay lại dùng dao trên đuổi đánh, anh T3 bỏ chạy nên T1 không đâm trúng. Lúc này, chị Đ đưa con dao chặt cho anh K1 cầm để phòng thân. Trường quay lại thấy anh K1 đang cầm dao nên T1 ném một cái ghế nhựa vào người anh K1 rồi bỏ đi ra ngoài quán. Sau đó, anh H chở Trường quay lại nhà ông P. Khi đi ngang qua cầu G (thuộc xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nay xã B, thành phố Đà Nẵng) T1 ném con dao xuống sông. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tổ chức truy tìm hung khí là con dao mà T1 sử dụng để đâm anh K1 tại khu vực cầu G nhưng không thu hồi được.

* Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 295/KLTC T-TTPYDN ngày 27/11/2024 của Trung tâm pháp y thành phố Đ, kết luận: Tỉ lệ thương tích của anh Hoàng Ngọc K1 tối thiểu là 10%.

* Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 21/KLTC T-TTPYDN ngày 06/02/2025 của Trung tâm pháp y thành phố Đ, kết luận: Thương tích của anh Hoàng Ngọc K1: Vết thương thấu thành ngực trái gây đứt sụn sườn IV trái, xuyên thấu nhu mô thùy trên phổi trái, máu chảy ở cơ ngực lớn và động mạch gian sườn trái đã được phẫu thuật mở rộng vết thương để xử trí. Hiện tại vết thương được phẫu thuật mở rộng và vết mổ dẫn lưu đã lành tạo sẹo; lồng ngực hai bên cân xứng, nạn nhân không ho, không khó thở, rì rào phế nang nghe giảm ở đáy phổi trái; nạn nhân khai hít thở sâu còn đau ở vùng ngực bên trái. Tỉ lệ thương tích của anh Hoàng Ngọc K1 là 22%.

Tại Bản cáo trạng số 85/CT-VKSĐN-P2 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1 về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thế N1 Trường như cáo trạng số 85/CT-VKSĐN-P2 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1 mức án từ 07 đến 08 năm tù về tội “Giết người”.

Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1, Luật sư thống nhất về tội danh cũng như điều luật mà cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Luật sư đề nghị HĐXX xem xét đến nguyên nhân là do trước đó bị hại đã có hành vi dùng hung khí hăm dọa, cũng như có nhiều lời lẽ liên tục khiêu khích làm cho bị cáo bị kích động về tinh thần dẫn đến việc phạm tội của bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị hại cũng có một phần lỗi và bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 57 BLHS giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại anh Hoàng Ngọc K2 nghi xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai của bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1 trong quá trình điều tra và tại phiên toà; lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát; luận cứ bào chữa của Luật sư, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Do giữa bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1 và anh Hoàng Ngọc K1 đã có mâu thuẫn nhỏ về việc T1 đi đòi nợ thì bị anh K1 hăm dọa khiêu khích. Vì vậy, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/11/2024, ngay khi gặp lại, giữa T1 và anh K1 đã xảy ra cãi nhau. Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, khi T1 đang nhậu thì nhớ lại việc anh K1 hăm dọa, khiêu khích nên T1 cầm dao qua quán bê thui Cầu M (địa chỉ thôn T, xã B, thành phố Đà Nẵng) rồi dùng dao dâm vào vùng ngực anh K1 gây thương tích với tỷ lệ 22%.

Với hành vi dùng dao là loại hung khí nguy hiểm có tính sát thương cao, đâm vào ngực bị hại là vùng hiểm yếu trên cơ thể con người có thể dẫn đến tử vong (vết thương thấu thành ngực trái), rõ ràng bị cáo Nguyễn Thế N1 Trường cố ý tướt đoạt tính mạng của anh Hoàng Ngọc K1, anh Hoàng Ngọc K3 chết là do được cứu chữa kịp thời. Do vậy Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1 đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1 chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong lời nói và mặc dù bị hại chưa có hành vi đe dọa đến sức khỏe, tính mạng của bị cáo nhưng bị cáo đã dùng dao đâm vào ngực của bị hại gây thương tích. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ hung hãn, coi thường tính mạng của người khác, coi thường trật tự xã hội. Do vậy cần phải áp dụng tình tiết phạm tội thuộc trường hợp “có tính chất côn đồ” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự để xử phạt đối với bị cáo như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp vào quyền được sống của con người, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc để giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng như theo đề nghị của luật sư.

Xét hậu quả chết người chưa xảy ra, do bị hại được cứu chữa kịp thời nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 của Bộ luật Hình sự.

[4] Trong vụ án này, Lê Minh H là người chở Nguyễn Thế Nhật T1 đến quán nhưng H không biết việc T1 mang theo dao và mục đích đến đâm anh K1, khi sự việc đánh nhau diễn ra thì Hiếu chủ Đ1 vào can ngăn nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

[5] Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, anh Hoàng Ngọc K1 yêu cầu bồi thường số tiền 100.000.000 đồng. Nguyễn Thế Nhật T1 đã tác động gia đình bồi thường số tiền 95.000.000 đồng. Tại phiên tòa, anh Hoàng Ngọc K3 yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ 02 ghế nhựa có tựa lưng, loại 04 chân màu nâu, trong đó có một ghế nhựa bị gãy một chân; 02 đôi dép xốp; mảnh vỡ ghế nhựa, xét thấy không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 (một) chiếc xe máy hiệu Yamaha Luvias màu trắng - đỏ, biển số 43K1 - 062.59, số khung 052839, số máy 052839 do chị Nguyễn Thị Mỹ T2 đứng tên chủ sở hữu. Từ năm 2023 đến thời điểm xảy ra sự việc, chị T2 cho T1 mượn xe máy này sử dụng làm phương tiện đi lại. Việc T1 sử dụng xe này thực hiện hành vi phạm tội chị Nguyễn Thị Mỹ T2 không hay biết nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Mỹ T2 là có cơ sở.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế N1 Trường phạm tội “Giết người”.
  2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 15; Điều 57 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/11/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, T4 tịch thu tiêu huỷ 02 (hai) ghế nhựa có tựa lưng, loại 04 chân màu nâu, trong đó có một ghế nhựa bị gãy một chân; 02 (hai) đôi dép xốp; mảnh vỡ ghế nhựa.

    (Vật chứng hiện do Thi hành án dân sự thành phố Đ lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/10/2025).

  4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế Nhật T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND TP. Đà Nẵng;

- Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng;

- Phòng HSNV- Công an TP. Đà Nẵng;

- Cơ quan THAHS - Công an TP. Đà Nẵng;

- Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng;

- Trại tạm giam số 1-Công an TP. Đà Nẵng;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Tự Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2025/HS-ST ngày 19/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự - giết người

  • Số bản án: 191/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế Nhật Trường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger