Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 191/2025/HS-PT

Ngày: 12/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thanh Nhã

Các Thẩm phán:Ông Hoàng Văn Thành

Ông Nguyễn Văn Chương

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Cẩm Thủy - Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 907/2024/TLPT-HS ngày 15/10/2024 đối với bị cáo Vũ Công K do có kháng cáo của nguyên đơn dân sự đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HSST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo bị kháng cáo:

Vũ Công K, sinh năm 1959; giới tính: nam; ĐKHKTT: B5 tập thể Công ty H4, phường Ô, quận Đ, Tành phố H; chỗ ở: căn B tầng C tòa nhà R, khu đô thị R, số G N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: hưu trí; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Công T và bà Vũ Thị X; có vợ và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 03/5/2024; bị cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Nguyên đơn dân sự có kháng cáo: Tổng công ty V; địa chỉ: số A N, phường B, quận L, Thành phố Hà Nội; đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thủy N – Chủ tịch Hội đồng quản trị; đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Minh H, CCCD số [...]; bà Trần Thị L, CCCD số [...]; bà L có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tổng Công ty vận tải thủy - Công ty TNHH MTV có trụ sở theo đăng ký kinh doanh tại số A đường N, phường B, quận L, Thành phố Hà Nội, địa điểm hoạt động chính tại địa chỉ: Số H phường B, quận H, Thành phố Hà Nội. Trước đây là Công ty 100% vốn nhà nước, đến ngày 18/6/2014 đã cổ phần hóa, chuyển vốn sang sở hữu tư nhân và đổi tên thành Tổng Công ty V (sau đây gọi tắt là CTCP). CTCP có đơn vị trực thuộc (chi nhánh) là Công ty X1 (sau đây gọi tắt là Công ty X1), Vũ Công K được bổ nhiệm làm Giám đốc chi nhánh. Sau khi cổ phần hóa, ngày 08/08/2014, CTCP yêu cầu Công ty X1 bàn giao con dấu để CTCP quản lý và yêu cầu Công ty X1 mỗi khi cần đóng dấu các văn bản, chứng từ liên quan đến hoạt động của Công ty phải có đề xuất trình ông Nguyễn Thủy N - Chủ tịch Hội đồng quản trị duyệt, đồng ý thì văn phòng CTCP sẽ đóng dấu. Ngày 8/8/2014, Vũ Công K đã bàn giao con dấu cho CTCP.

Vũ Công K khai: Do Công ty X1 đang còn nợ tiền của các khách hàng cũ, họ đòi nợ nhiều, trong khi ông N không duyệt các khoản chi cho K để trả các khoản nợ cho khách hàng nên K đã nảy sinh ý định làm một con dấu mới có nội dung, hình thức giống con dấu mà CTCP đã thu giữ, quản lý. Khoảng tháng 7 năm 2015, K đã đến Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố H (thời điểm này có địa chỉ tại số A phố C, quận Đ, Thành phố Hà Nội) để khắc dấu mới thì được biết doanh nghiệp chủ động chọn nơi khắc dấu. K gặp một người (không xác định được thông tin nhân thân) giới thiệu làm ở cơ sở khắc dấu và chi phí phải trả là 1.000.000 đồng, sau 2 giờ là sẽ có dấu mới. K đồng ý và đưa mẫu cho người nhận khắc dấu. Việc thuê làm dấu và giao nhận con dấu xảy ra bên ngoài cửa Văn phòng đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và đầu tư Thành phố H. Sau khi nhận con dấu, K không đăng tải thông báo về mẫu con dấu mới trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, với lý do là con dấu mới có nội dung và hình thức giống hệt con dấu cũ nên không cần đăng tải mẫu lên. Con dấu mới được K sử dụng vào hoạt động của Công ty để đóng dấu séc chi tiền, giấy giới thiệu cho nhân viên đến các ngân hàng trên địa bàn Thành phố Hà Nội để rút tiền, chuyển khoản. K đã sử dụng con dấu tự đặt khắc để đóng lên 03 ủy nhiệm chi và 03 tờ séc, cụ thể: 01 ủy nhiệm chi đề ngày 19/10/2016; 01 ủy nhiệm chi đề ngày 01/11/2016; 01 ủy nhiệm chi đề ngày 01/11/2018; 01 tờ SÉC số AR3149451 đề ngày 02/11/2016; 01 tờ SÉC số AR3149452 đề ngày 26/01/2018; 01 tờ SÉC số AR3149453 đề ngày 07/02/2018. Các tài liệu nêu trên được sử dụng tại Phòng G - Ngân hàng A chi nhánh H5 (Số H phố T, phường Q, quận Đ, Thành Phố Hà Nội) để Công ty chuyển khoản hoặc rút Séc từ tài khoản chi nhánh mở tại ngân hàng N1 chi nhánh H5. Cụ thể:

  • - Ủy nhiệm chi đề ngày 19/10/2016, K trả 50.000.000đồng tiền vay của anh Đào Văn C, sinh năm: 1981; Nơi thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tài liệu điều tra thể hiện ngày 22/6/2014, K có ký hợp đồng vay tiền để kinh doanh với anh Đào Văn C số tiền 800.000.000đồng. K khai sau khi cổ phần hóa, Công ty không có nguồn thu mà áp lực từ các khoản nợ của công ty bị đòi thanh toán liên tục, lúc này Công ty không vay được vốn Ngân hàng do vậy phải đi vay của cá nhân để thanh toán, qua xác minh thể hiện trong sổ quỹ tiền chi của Công ty.
  • - Ủy nhiệm chi đề ngày 01/11/2018: “Công ty vay của ông Vũ Công H1, sinh năm: 1982; nơi thường trú: Tổ C, phường N, quận L, TP .”, số tiền 50.000.000đồng. Ngày 10/10/2011, Công ty có vay của bà Nguyễn Thị L1; nơi thường trú: T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2011 (có Hợp đồng vay với số tiền 430.000.000đồng). Sau khi cổ phần hóa, bà L1 đã nhiều lần yêu cầu Công ty phải thanh toán, do không có tiền trả nên ngày 11/7/2014, Công ty đã vay của ông H1 để trả bà L1 (có hợp đồng vay). Qua xác minh có trong sổ chi tiền mặt của Công ty, Tổng Công ty đã đối chiếu khoản nợ này với K.
  • - Ủy nhiệm chi đề ngày 01/11/2016: trả tiền vật tư Công ty Cổ phần V do ông Phạm Ngọc L2; nơi thường trú: Tổ dân phố H, phường L, quận B, TP . làm giám đốc số tiền 100.000.000 đồng. Tài liệu điều tra thể hiện có hợp đồng mua bán số 03/HĐMB/2012 ký ngày 14/7/2012 giữa Công ty X1 và Công ty Cổ phần V về việc bán cọc bê tông cho công trình trường Cao đẳng múa Việt Nam, số nợ có trong công nợ khi cổ phần hóa và có trong biên bản đối chiếu công nợ với Công ty Cổ phần V ngày 31/12/2013.
  • - Tờ SÉC số AR3149451 đề ngày 02/11/2016 số tiền 250.000.000 đồng. Tài liệu điều tra thể hiện số tiền nêu trên đã chi: Ngày 02/11/2016 trả tiền vay bà Nguyễn Lưu Lan H2; nơi thường trú: Tổ F, phường T, quận Đ, TP . là 150.000.000 đồng, ngày 04/11/2016 trả tiền vay ông Vũ Công H1 50.000.000 đồng; còn 50.000.000 đồng chuyển sang năm 2017 trả ông Đào Văn C, sinh năm: 1981; nơi thường trú: Tổ dân phố C, Thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang số tiền 20.000.000 đồng ngày 21/01/2017; Ngày 23/01/2017 trả tiền cọc bê tông cho Công ty Cổ phần V do ông Phạm Ngọc L2 số tiền là 30.000.000 đồng. Tất cả các khoản chi nêu trên đều được ghi chép trong sổ tiền mặt của Công ty.
  • - Tờ SÉC số AR3149452 đề ngày 26/01/2018, số tiền 1.000.000.000 đồng. Qua xác minh thể hiện đã trả cho ông Nguyễn Kao C1, sinh năm: 1976; nơi thường trú: Số B tổ B phường Y, quận C, TP . số tiền 700.000.000 đồng là tiền tạm ứng công trình khu trung tâm hành chính Thành phố H (có hợp đồng tạm ứng); Trả cho ông Lê Văn S, sinh năm: 1963; nơi thường trú: Xóm I, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam số tiền 150.000.000 đồng; Trả bà Dương Thị Thu T1, sinh năm: 1979; nơi thường trú: P15A hẻm C K, phường N, Q. B, TP . số tiền 94.000.000 đồng; Trả tiền vay ông Nguyễn Hoàng T2, sinh năm: 1971; nơi thường trú: số nhà C ngách A ngõ A L, Q. B, TP . số tiền 56.000.000 đồng. Các khoản vay trên đều có hợp đồng tạm ứng hoặc hợp đồng vay và được thể hiện trong sổ tiền mặt của Công ty X1 và Tư vấn thiết kế.
  • - Tờ SÉC số AR3149453 đề ngày 07/02/2018, số tiền 150.000.000 đồng rút tiền mặt về Công ty X1. Đây là số tiền của Công ty Cổ phần V do ông Nguyễn Văn M (nơi thường trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) là giám đốc trả tiền công trình đê Cầu Dâu cho Công ty X1 và Tư vấn Thiết kế làm. Ngày 02/02/2018, K dùng số tiền này trả cho ông Nguyễn Xuân T3, sinh năm: 1962; nơi thường trú: số 1 ngõ A phố C, P. N, Q . T, TP . là người nhận khoán công trình 100.000.000 đồng (có hợp đồng giao khoản); trả ông Lê Văn S số tiền 20.000.000 đồng; trả tiền vay ông Nguyễn Hoàng T2 số tiền 30.000.000 đồng. Các khoản vay nêu trên đều được ghi chép trong sổ tiền mặt của Công ty.

Vũ Công K nhận thức được quy trình của Tổng Công ty, khi Công ty C3 đóng dấu các văn bản, tài liệu phục vụ các hoạt động của Công ty đều phải đề xuất ông Nguyễn Thủy N - Chủ tịch HĐQT duyệt, đồng ý thì Văn phòng Tổng Công ty sẽ đóng dấu. Vào thời điểm đó nhiều khoản vay cho hoạt động của công ty bị đòi nợ nhiều, để đẩy nhanh tiến độ hoạt động, bị cáo K đã tự khắc 01 con dấu của Công ty để sử dụng vào các hoạt động của Công ty và đã đóng 01 lần vào 03 tờ séc và 03 giấy ủy nhiệm chi, sau đó kế toán ra ngân hàng rút tiền, việc điền ngày là do kế toán tự điền ngày bị cáo K không biết. Việc làm con dấu này chỉ có K biết. Ngân hàng N1 Chi nhánh H5 cung cấp 35 Ủy nhiệm chi và 12 tờ SÉC của Công ty X1 và Tư vấn Thiết kế. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định tại Phòng PC09 - Công an thành phố H: mẫu chữ ký của ông Vũ Công K, mẫu dấu của Công ty X1 và Tư vấn Thiết kế tại 35 ỦY NHIỆM CHI và 12 tờ SÉC (mẫu so sánh là hình dấu do con dấu cũ của Công ty X1 và Tư vấn Thiết kế hiện do Tổng Công ty V - CTCP quản lý và con dấu mới, do ông K đặt khắc đóng ra) đến PC09 – Công an Thành phố H: Theo Kết luận giám định số 8794/KLGĐ-PC09-Đ3 ngày 20/12/2021 của phòng K1 - Công an Thành phố H thể hiện: 1. Hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A32, từ A36 đến 444 với hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY" trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 do cùng một con dấu đóng ra. Hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A33 đến A35, từ A45 đến A47 với hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M6 không phải do cùng một con dấu đóng ra. 2. Chữ ký đứng tên Vũ Công K trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ Al đến A47 với chữ ký đứng tên Vũ Công K trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M2 đến M10 là chữ do cùng một người ký ra.

Ngày 15 tháng 02 năm 2022, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định 03 ủy nhiệm chi và 03 tờ séc. Tại bản Kết luận giám định số: 1414/KLGĐ, ngày 08/3/2022 của phòng K1 - Công an Thành phố H thể hiện: Hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” trên các mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A6) với hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” trên mẫu so sánh ( ký hiệu M) do cùng một con dấu đóng ra.

Ngày 26 tháng 5 năm 2022, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định mẫu dấu. Tại bản Kết luận giám định số: 3774/KLGĐ ngày 14/6/2022 của phòng K1 - Công an Thành phố H thể hiện: 1. Hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” trên mẫu cần giám định ký hiệu A1 với hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” mẫu so sánh ký hiệu M do cùng một con dấu đóng ra. 2. Hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 với hình dấu tròn “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng một con dấu đóng ra. Như vậy: 06 tài liệu được đóng dấu do ông K tự khắc gồm 01 ủy nhiệm chi đề ngày: 19/10/2016; 01 ủy nhiệm chi đề ngày 01/11/2016; 01ủy nhiệm chi đề ngày 01/11/2018; 01 tờ SÉC số AR3149451 đề ngày 02/11/16; 01 tờ SÉC số AR3149452 đề ngày 26/01/2018; 01 tờ SÉC số AR3149453 đề ngày 07/02/2018. 41 tài liệu còn lại (gồm 32 ủy nhiệm chi và 9 tờ séc) do con dấu thật “CÔNG TY XÂY LẮP VÀ TƯ VẤN THIẾT KẾ TỔNG CÔNG TY VẬN TẢI THỦY” đóng ra. Đối với 13 khoản tiền, Tổng Công ty V đề nghị xác minh làm rõ. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh ghi lời khai đại diện các đơn vị và cá nhân ghi trong 22 ỦY NHIỆM CHI và 12 tờ Séc đều khẳng định có việc Công ty X1 và Thiết kế chuyển trả tiền đúng như nội dung trong các tờ ỦY NHIỆM CHI VÀ SÉC trên. Do vậy tài liệu điều tra không có căn cứ xác định Vũ Công K có hành vi chiếm đoạt tài sản. Đối với 1 con dấu do K tự khắc thêm và giao nộp cho Cơ quan điều tra. Con dấu này, K không sử dụng mà chỉ có mục đích chứng minh cho việc K vẫn có thể khắc được con dấu khác. Do vậy xác định K chưa sử dụng con dấu này trong hoạt động của Công ty nên không đề cấp xử lý.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HSST ngày 24/5/2024, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội đã quyết định:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Vũ Công K 36 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: các bên tự hòa giải, không yêu cầu giải quyết trong vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/6/2024, Tổng công ty V kháng cáo đối với toàn bộ bản án.

Ngày 25/6/2024, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng có thông báo số 55/2024/TB-TA về việc yêu cầu Tổng công ty V – CTCP sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo cho phù hợp quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Ngày 10/7/2024, Tổng công ty V có đơn sửa đổi, bổ sung kháng cáo với nội dung chỉ kháng cáo về phần dân sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo Vũ Công H3 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết. Bị cáo xác nhận không kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.
  • - Đại diện Nguyên đơn dân sự xác nhận việc thay đổi, bổ sung khác cáo, Tổng công ty V – CTCP chỉ kháng cáo về phần dân sự. Về lý do kháng cáo, CTCP cho rằng ngoài số tiền gây thiệt hại do hành vi phạm tội, bị cáo còn gây ra nhiều thiệt hại khác, CTCP mong muốn hai bên thỏa thuận toàn bộ công nợ nên có mong muốn tự hòa giải, do hiểu sai về phần dân sự trong vụ án nên đã đồng ý thỏa thuận vấn đề bồi thường với bị cáo. CTCP đề nghị cấp sơ thẩm xem xét lại phần dân sự.
  • - Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Kháng cáo của nguyên đơn dân sự trong hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức.

Tòa án cấp sơ thẩm quy kết Vũ Công K phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định.

Trong vụ án, ông Đào Văn C, ông Vũ Công H1, bà Nguyễn Thịu L3, ông Phạm Ngọc L2, bà Nguyễn Lưu Lan H2, ông Nguyễn Cao C2, ông Lê Văn S, bà Dương Thị Thu T1, ông Nguyễn Hoàng T2, ông Nguyễn Xuân T3, ông Lê Van S1 là những người thụ hưởng tiền từ hành vi phạm tội của Vũ Công K. Mặc dù những người trên không đồng phạm với K nhưng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Cấp sơ thẩm không đưa những người trên vào tham gia tố tụng là vi phạm thủ tục tố tụng. Vì vậy, căn cứ Điều 355; Điều 358 và Điều 361 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị hủy phần dân sự trong vụ án, giao Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử lại theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kháng cáo của nguyên đơn dân sự trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Công K khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ được tóm tắt nêu trên, bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt Vũ Công K về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Nguyên đơn dân sự có văn bản thay đổi, bổ sung nội dung khác cáo xác định chỉ kháng cáo phần dân sự. CTCP không kháng cáo về tư cách tham gia tố tụng, theo quy định tại Điều 63 Bộ luật Tố tụng hình sự, nguyên đơn dân sự không có quyền kháng cáo về hình phạt. Vì vậy, phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với Vũ Công K đã có hiệu lực pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn dân sự và bị cáo tự nguyện thỏa thuận tự giải quyết về dân sự, thỏa thuận của các bên không trái quy định pháp luật. Vì vậy, về nguyên tắc, cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn dân sự. Tuy nhiên, Vũ Công K tạo lập tài liệu giả để chi trả các khoản công nợ của chi nhánh, nên các giao dịch liên quan đến 03 Séc và 03 ủy nhiệm chi bị cáo làm giả là vô hiệu; ông Đào Văn C, ông Vũ Công H1, bà Nguyễn Thịu L3, ông Phạm Ngọc L2, bà Nguyễn Lưu Lan H2, ông Nguyễn Cao C2, ông Lê Văn S, bà Dương Thị Thu T1, ông Nguyễn Hoàng T2, ông Nguyễn Xuân T3, ông Lê Văn S là những người thụ hưởng tiền từ hành vi phạm tội của Vũ Công K; mặt khác, Ngân hàng A chi nhánh H5 là đơn vị có trách nhiệm quản lý tài sản trong tài khoản của Công ty X1 (chi nhánh của V). Vì vậy, những cá nhân, đơn vị trên là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Cấp sơ thẩm không đưa vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại không đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên. Vì vậy, cần hủy phần dân sự trong vụ án để xét xử lại theo quy định.

[3] Bị cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; nguyên đơn dân sự phải nộp áp phí dân sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 2 Điều 358; điểm c khoản 1 Điều 361 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Hủy phần quyết định về trách nhiệm dân sự tại Bản án hình sự sơ thẩm số 122/2024/HS-ST ngày 24/5/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng.
  3. Giao Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
  4. Căn cứ Điều 136, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Bị cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Buộc Tổng công ty V phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được đối trừ số tiền tạm ứng án phí tại Biên lai số 24116 ngày 12/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. Hà Nội;
  • - Công an Tp. Hà Nội;
  • - TAND quận Hai Bà Trưng;
  • - VKSND quận Hai Bà Trưng;
  • - Chi cục THADS quận Hai Bà Trưng;
  • - Bị cáo; nguyên đơn dân sự;
  • - Lưu HSVA; VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Nhã

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2025/HS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về phúc thẩm vụ án hình sự

  • Số bản án: 191/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Phúc thẩm vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Công K - Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger