TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 191/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/10/2025 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh và bà Vương Thị Hồng Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ninh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh (trụ sở chính) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 220/2025/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2025.
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hùng T, sinh năm 1988; địa chỉ: Số A đường Đ, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (phường D, Thành phố Hồ Chí Minh); có đơn giải quyết vắng mặt
- Bị đơn: Bà Đậu Thị L, sinh năm 1990; địa chỉ: Số A đường Đ, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh), có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Phạm Thị N, sinh năm 1983; địa chỉ: P, Tầng trệt, B N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 7 năm 2025 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Hùng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Hùng T và bà Đậu Thị L kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 112/2014 ngày 12 tháng 8 năm 2014.
Hôn nhân giữa ông T và bà L là tự nguyện. Trong quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, tính tình vợ chồng không hợp. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vã dẫn đến gia đình luôn căng thẳng. ông bà đã nhiều lần tìm cách để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Nay nhận thấy cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn nên ông Nguyễn Hùng T yêu cầu được ly hôn với bà Đậu Thị L.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà L và ông T có hai con chung là Nguyễn Ngọc Trúc L1, sinh ngày 02/01/2020 và Nguyễn Hùng D, sinh ngày 09/01/2016. Sau khi ly hôn ông T đồng ý giao bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu là Nguyễn Hùng D và Nguyễn Ngọc Trúc L1. Ông T thực hiện cấp dưỡng nuôi con chung đối với cả hai cháu là 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng, tương ứng mỗi cháu 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Đậu Thị L đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 21/8/2025, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ nhưng bà L vắng mặt không lí do. Tại phiên tòa bà L thống nhất với lời trình bày của ông T về thời gian tìm hiểu, việc đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T có quan hệ bên ngoài nên ông T yêu cầu ly hôn thì bà L đồng ý ly hôn.
Về con chung: Bà L là người trực tiếp nuôi con Nguyễn Ngọc Trúc L1, sinh ngày 02/01/2020 và Nguyễn Hùng D, sinh ngày 09/01/2016. Yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 12.000.000 đồng/tháng (tương ứng mỗi con 6.000.000/tháng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông T và bà Lý do Tòa án tiến hành ngày 04/9/2025, Hội Liên hiệp phụ nữ phường D, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thông tin như sau: Trước khi nộp đơn ly hôn tại Tòa án, Hội Liên hiệp phụ nữ phường D, Thành phố Hồ Chí Minh không có thông tin trình báo về mâu thuẫn giữa vợ chồng ông Nguyễn Hùng T, sinh năm 1988 và bà Đậu Thị L, sinh năm 1990. Vì vậy, về tình trạng quan hệ hôn nhân, nghề nghiệp, nguyên nhân mẫu thuẫn cũng như vấn đề nuôi dạy con chung giữa ông T, bà Lý H Liên hiệp phụ nữ phường D, Thành phố Hồ Chí Minh không nắm được và cũng không nhận được thông báo từ địa phương.
- Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Xét các đương sự thỏa thuận thống nhất với nhau tất cả các vấn đề chỉ có chưa thống nhất về mức cấp dưỡng nuôi con, xét việc cấp dưỡng nuôi con là vì quyền và lợi ích hợp pháp của các con. Bà L là người trực tiếp chăm sóc, dạy dỗ, chăm lo mọi chi phí cho các con chung, mức chi tiêu của các con như đã cung cấp cho Tòa án là từ 24 – 25 triệu/đồng, bà L có công việc ổn định mức thu nhập hàng tháng khoảng 30.000.000 đồng. Mức thu nhập, khả năng kinh tế của ông T là Chính trị viên phó tiểu đoàn trưởng, sĩ quan quân đội, có công việc làm ổn định mức thu nhập hơn 20 triệu/tháng, đồng thời có còn nguồn thu từ việc kinh doanh nhà trọ khoảng 12 triệu/tháng.
Căn cứ pháp lý theo khoản 1 Điều 81, khoản 2 Điều 82, Điều 116 Luật Hôn nhân gia đình, Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng dựa vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Bà L là người trực tiếp chăm sóc, đưa đón các con đi con đúng ra ông T phải có trách nhiệm nhiều hơn về kinh tế. Vì mọi quyền lợi hợp pháp của trẻ em, những người bị ảnh hưởng trực tiếp về việc ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận mức cấp dưỡng 12.000.000 đồng/tháng/2 con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, căn cứ Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107 và Điều 110 Luật Hôn nhân gia đình 2014, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hùng T:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Hùng T được ly hôn với bà L
Về con chung: Giao 2 con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, ông T cấp dưỡng nuôi con 8.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn ông Nguyễn Hùng T khởi kiện yêu cầu Ly hôn tranh chấp nuôi con đối với bị đơn bà Đậu Thị L. Bị đơn bà Đậu Thị L sinh sống tại số A đường Đ, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt, có mặt của các đương sự: Nguyên đơn ông Nguyễn Hùng T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[1.3] Về yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ của người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cung cấp tài liệu chứng cứ tại phiên tòa bà L cho rằng việc cung cấp tài liệu chứng cứ chậm trễ là do nghĩ ông T đã rút đơn khởi kiện nên không cung cấp. Xét việc giao nộp tài liệu chứng cứ là nghĩa vụ của đương sự, việc bị đơn yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu chứng cứ và cung cấp tài liệu chứng cứ sau khi Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử mà không có lý do chính đáng vi phạm quy định Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
[2] Về nội dung:
[2.1] Ông Nguyễn Hùng T và bà Đậu Thị L kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 112/2014 ngày 12 tháng 8 năm 2014, hôn nhân của hai người là tự nguyện, không bị ai ép buộc nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Ông T xác định quá trình chung sống với nhau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có sự quan tâm, chia sẻ lẫn nhau. Quá trình tố tụng Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Hùng T và bà Đậu Thị L để tự khai, tham gia phiên hòa giải, phiên tòa để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không thành. Chứng tỏ tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, tại phiên tòa bà L cũng đồng ý ly hôn nên yêu cầu ly hôn của ông T là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà L và ông T có 02 con chung: Nguyễn Ngọc Trúc L1, sinh ngày: 02/01/2020 và Nguyễn Hùng D, sinh ngày: 09/01/2016. Sau khi ly hôn ông T yêu cầu giao cho bà Đậu Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét các con hiện do bà L chăm sóc, phát triển bình thường, các con có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, việc giao con chung cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông T đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi con 2.500.000 đồng/tháng (tổng cộng 5.000.000 đồng/tháng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, bà L không đồng ý yêu cầu mức cấp dưỡng mỗi con 6.000.000 đồng/tháng (tổng cộng mỗi tháng 12.000.000 đồng/con) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét các đương sự không thỏa thuận với nhau về mức cấp dưỡng, Hội đồng xét xử căn cứ theo thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, tại phiên tòa bà L thừa nhận lương thực lãnh của ông T là 18.000.000 đồng/tháng đồng thời trong quá trình giải quyết ly hôn thì hàng tháng ông T vẫn cấp dưỡng 8.000.000 đồng/tháng/2 con đến nay. Nên có căn cứ xác định mức cấp dưỡng 8.000.000 đồng/tháng/con là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình, Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.3] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ý kiến người của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có căn cứ chấp nhận một phần. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Hùng T phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 228, 235, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hùng T đối với bị đơn bà Đậu Thị L việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
- - Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Hùng T được ly hôn với bà Đậu Thị L theo giấy chứng nhận kết hôn số 112/2014 ngày 12 tháng 8 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
- - Về con chung: Bà Đậu Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Trúc L1, sinh ngày 02/01/2020 và cháu Nguyễn Hùng D, sinh ngày 09/01/2016. Ông Nguyễn Hùng T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con 4.000.000 đồng/tháng (tổng cộng 8.000.000 đồng/tháng/ 2 con) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn ông T, bà L phải tạo điều kiện cho nhau trong việc chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Hùng T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006865 ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Hùng T phải tiếp tục nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.
- Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Trung Hiếu |
Bản án số 191/2025/HNGĐ-ST ngày 30/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 191/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa Nguyễn Hùng T và bà Đậu Thị L
