Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Bùi Đức Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Bộ và ông Phan Mạnh Tưởng.

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Ngọc Bích – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 144/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 39/2025/QĐST-HNGĐ ngày 16/6/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2003.
  • Số Căn cước công dân: [...].
  • Nơi thường trú: xóm Q, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Bị đơn: anh Trịnh Xuân T, sinh năm 2002.
  • Số Căn cước công dân: [...].
  • Nơi thường trú: thôn G, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn, các lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

Chị và anh Trịnh Xuân T tự nguyện kết hôn, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội vào ngày 06/3/2023. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc, hoà thuận đến năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, tính cách không phù hợp. Mặc dù đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng đều không có kết quả. Thực tế vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2024 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị xin được ly hôn với anh Trịnh Xuân T.

Về con chung: chị và anh Trịnh Xuân T không có con chung và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công sức và nợ chung: chị xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn là anh Trịnh Xuân T hiện có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã H, huyện M. Tuy nhiên Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Trịnh Xuân T đều vắng mặt không lý do. Qua tài khoản Zalo, anh Trịnh Xuân T trình bày: chị Nguyễn Thị H xin ly hôn, anh mong vợ chồng đoàn tụ, nhưng nếu chị Nguyễn Thị H kiên quyết xin ly hôn thì anh đồng ý; anh xác nhận giữa anh và chị Nguyễn Thị H không có con chung, không có tài sản, công sức và nợ chung. Các văn bản tố tụng Toà án đã gửi qua Zalo và gửi về địa chỉ nơi cư trú anh đều đã nhận được.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Trịnh Xuân T vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức phát biểu quan điểm:

Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn Nguyễn Thị H đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: xét thấy mâu thuẫn giữa các đương sự đã kéo dài và trầm trọng, cuộc sống chung không tồn tại, hôn nhân không đạt được mục đích nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Trịnh Xuân T.

Về con chung; về tài sản, công sức và nợ chung: các đương sự đều xác nhận không có và không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Trịnh Xuân T có hộ khẩu thường trú tại thôn G, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội, đã nộp tạm ứng án phí là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

  • - Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân T tự nguyện kết hôn, có đăng ký, là hôn nhân hợp pháp. Do bất đồng quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, dù đã tìm mọi biện pháp để hòa giải, hàn gắn nhưng không có kết quả, thực tế từ năm 2024 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau.
  • Xét thấy các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân T bị vi phạm nghiêm trọng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H, ý kiến đồng ý của anh Trịnh Xuân T và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • - Về con chung: chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân T đều xác nhận không có con chung và đều không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.
  • - Về tài sản, công sức và nợ chung: chị Nguyễn Thị H và anh Trịnh Xuân T đều xác nhận không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Chương III Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Trịnh Xuân T.
  2. Về con chung; tài sản, công sức và nợ chung: các đương sự đều xác nhận không có và không yêu cầu nên Toà án không giải quyết.
  3. Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0077192 ngày 25/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
  4. Quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Hợp Tiến (nơi đăng ký kết hôn);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Bùi Đức Hiệp

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 191/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger