Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 191/2024/HSST

Ngày: 24/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hà

Bà Dương Thị Diễm

Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 187/2024/TLST-HS ngày 09/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 421/2024/QĐXXST-HS ngày 09/10/2024, đối với các bị cáo:

  1. Tạ Thị N; Sinh năm: 1980; Nơi sinh: Hà Nội; HKTT: Số B hẻm D K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội; Nơi ở: P số D ngách F Đ, phường V, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết) và bà: Tạ Thị B (đã chết); Chồng: Nguyễn Văn L; Con: 05 con: con lớn sinh năm 1996; con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 03/4/2013 bị Công an phường G xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý; Tiền án: 02 tiền án; Nhân thân: Bản án số: 320/2014/HSST ngày 28/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 38 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ra trại ngày 13/01/2017 (chưa xóa án tích); Bản án số: 166/2017/HSST ngày 18/9/2017 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 44 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ra trại ngày 31/8/2023 (chưa xóa án tích); Bị cáo đầu thú ngày: 17/4/2024; Có mặt.
  2. Nguyễn Ngọc D; Sinh năm: 1980; Nơi sinh: Hà Nội; HKTT: SỐ C K, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; Tạm trú tại: Số D ngách F Đ, phường V, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Mạnh H (đã chết) và bà: Trần Thị T; Con: 01 con sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: 03 tiền án; Nhân thân: Bản án số: 801/2003/HSST ngày 22/9/2003 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ra trại ngày 01/9/2008, chấp hành xong án phí ngày 26/12/2003 (đã xóa án tích); Bản án số: 27/2015/HSST ngày 03/02/2015 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ra trại ngày 16/10/2016, chấp hành xong án phí ngày 05/5/2015 (đã xóa án tích); Bản án số: 64/2018/HSST ngày 11/05/2018 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xử phạt 03 năm 04 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ra trại ngày 22/10/2020, chấp hành xong án phí ngày 08/8/2018 (đã xóa án tích); Bị cáo đầu thú ngày: 17/4/2024; Có mặt.
  3. Trần Công T1; Sinh năm: 1975; Nơi sinh: Hà Nội; HKTT: Tổ B phường Y, quận C, thành phố Hà Nội; Nơi ở: P420 Nhà C, Tập thể B T, phường X, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn T2 (đã chết) và bà: Giang Thị P; Vợ: Lê Thị H1; Có 2 con: con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt ngày: 17/4/2024; Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lê Thị H1, sinh năm 1988, (Có mặt)
  2. Địa chỉ: P420 Nhà C, Tập thể B T, phường X, quận B, thành phố Hà Nội.

  3. Anh Ngô Hồng L1, sinh năm: 1982, (Vắng mặt)
  4. Nơi thường trú: E L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tạ Thị N là đối tượng nghiện ma túy, do không có việc làm ổn định nên N đã mua ma túy để bán lại kiếm lời. Khoảng đầu tháng 4/2024, N mua 15.400.000 đồng ma túy các loại của một người đàn ông sử dụng số điện thoại 0775.942.xxx tại khu vực đầu ngõ C Đ, quận B, thành phố Hà Nội. Sau khi mua xong, N đã mang tất cả số ma túy trên về nhà tại địa chỉ số B hẻm D K, Phường N, quận B, thành phố Hà Nội. Tại phòng ngủ tầng 2, N đã sử dụng giấy bạc màu trắng, nilon màu xanh để chia và gói ma túy Heroin thành 50 gói trong đó 15 gói Heroine bọc nilon màu xanh và 05 gói heroine bọc giấy bạc màu trắng, N bán với giá 500.000 đồng/gói và 30 gói Heroine bọc nilon màu xanh N bán với giá 200.000 đồng/gói, còn lại một phần Heroin chưa chia N vẫn để trong túi nilon; Ma túy Ketamin, N chia thành 03 túi nilon nhỏ để bán với giá 500.000 đồng/túi; Ma túy Methamphetamine (dạng tỉnh thể), N đã chia thành 05 túi nilon nhỏ bán với giá 500.000 đồng/túi; Ma túy Methamphetamine (dạng viên), N để trong túi nilon màu xanh bán với giá 50.000 đồng/viên. Số ma túy chia được N cho tất cả vào 01 hộp nhựa hình trụ tròn có chữ Dove và để trong ngăn kéo kệ tivi. N sử dụng số điện thoại 0354.619.xxx và tài khoản zalo tên “Tạ Nhung” để liên hệ mua bán ma túy. Từ khoảng đầu tháng 4/2024 đến ngày 16/4/2024, N đã bán được: 05 gói ma túy Heroine bọc nilon xanh với giá 500.000 đồng/gói, 13 gói ma túy Heroin bọc nilon xanh với giá 200.000 đồng/gói, 02 túi ma túy Ketamin giá 500.000 đồng/túi, 04 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng/túi. Tuy nhiên N không nhớ được thời gian cụ thể, thông tin của những người mua ma túy.

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, Ngô Hồng L1 (Sinh năm: 1982, Nơi thường trú: E L, phường G, quận B, thành phố Hà Nội) sử dụng tài khoản Zalo “L1.TU” gọi vào tài khoản Z “Tạ Nhung” của N hỏi mua 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng, N đồng ý và hẹn L1 đến nhà ở tại địa chỉ số B hẻm D K để giao dịch. Thỏa thuận xong, L1 đi thuê xe đến đầu ngõ D K rồi xuống xe đi bộ vào gặp N mua ma túy. Mua được ma túy, L1 cầm gói ma túy trong tay phải rồi đi bộ ra khu vực hồ G, Phường G, B, Hà Nội để tìm nơi sử dụng. Khi L1 đang đi bộ ven hồ G, thì nhìn thấy cơ quan công an nên L1 đã ném gói Heroin bọc bằng nilon màu xanh đang cầm trong tay phải về phía hồ G. Tổ công tác không thu giữ được ma túy của L1.

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 17/4/2024, Trần Công T1 sử dụng số điện thoại 0981.158.xxx gọi đến số điện thoại 0354.619.xxx của N hỏi mua 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng. N đồng ý và hẹn T1 đến địa chỉ số B hẻm D K để giao dịch. Thỏa thuận xong, T1 điều khiển xe máy Vision màu đen, BKS: 29P1-759.74 đến nhà N để mua ma túy. Mua được ma túy, T1 cầm gói ma túy trong tay phải rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khi T1 đi đển khu vực ngã tư L - Đ, phường N, quận B, Hà Nội thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an quận B phối hợp cùng Công an phường V bắt quả tang cùng vật chứng.

Ngoài nơi ở tại địa số 27 hẻm D, từ tháng 03/2024 N còn thuê phòng 604 tại nhà số D ngách F Đ, phường V, quận B, Hà Nội để ở cùng Nguyễn Ngọc D. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, N và D đi bộ về đến trước cửa nhà số D ngách F Đội N thì bị Cơ quan công an kiểm tra. N và D khai nhận còn cất giấu ma túy tại phòng 604 nhà số D ngách F Đội N và xin tự nguyện giao nộp. Nhung giao nộp 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ bìa cứng màu đen và 01 tầu cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 5000 đồng (đây là dụng cụ N sử dụng ma túy, D không biết việc N sử dụng ma túy). D giao nộp hộp giấy kim tiêm bên trong có 01 vỏ nilon kim tiêm bên trong có 01 gói nilon màu xanh chứa chất bột màu trắng, 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 02 túi nilon chứa kim tiêm chưa qua sử dụng và 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, số tiền 1.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu giữ số vật chứng trên của D.

D khai số ma túy giao nộp là ngày 17/4/2024 D mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ L2 hết 400.000 đồng. D cất giấu trong nhà vệ sinh của phòng 604 nhà số D ngách F Đội N. Mục đích để sử dụng. N không biết và không liên quan đến số ma túy của D.

- Vật chứng thu giữ của Tạ Thị N:

  • + 01 đĩa sứ màu trắng trên có 01 thẻ bìa cứng màu đen và 01 tầu cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, tất cả đều dính tinh thể màu trắng;
  • + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung A55 5G màu hồng (Sim: 0345619808)
  • + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo màu xanh (Sim: 0343313041)
  • + Số tiền 200.000 đồng
  • - Thu giữ tại nơi Tạ Thị N đăng ký HKTT 27 hẻm D K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội:
    • Tại ngăn kéo kệ tivi tầng 02:
      • - 01 cóong thủy tinh
      • - 01 hộp nhựa hình trụ tên nhãn hiệu Dove bên trong có:
        • + 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng
        • + 01 túi nilon chứa 08 gói nilon xanh và 05 gói bạc giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng
        • + 01 túi nilon chứa 17 gói bọc nilon xanh trong chứa chất bột màu trắng
        • + 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng
        • + 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng
        • + 01 túi nilon xanh chứa 20 viên nén màu hồng
        • + 01 cân điện tử màu nâu

Vật chứng thu giữ của Trần Công T1:

  • + 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng;
  • + 01 ĐTDD Oppo màu xanh (IMEI: 867226055331014, S: 0981.158.808)
  • + 01 xe máy Honda Vision màu đen, BKS: 29P1-759.74
  • + Số tiền 1.000.000 đồng

- Vật chứng thu giữ của Ngô Hồng L1:

  • + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu OPPO A77S màu đen (IMEI: 866996060128453, Sim: 0347.775.993)

Bản kết luận giám định số 2920/KL-KTHS ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận số ma túy thu giữ của Trần Công T1: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilon màu xanh là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,273 gam”.

Bản kết luận giám định số 2985/KL-KTHS ngày 27 tháng 4 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận số ma túy thu giữ của Nguyễn Ngọc D:

“01 vỏ hộp giấy kim tiêm bên trong gồm có:

  • - 01 vỏ nilon kim tiêm bên trong chứa:
    • + Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilon màu xanh là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,133 gam
    • + Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,338 gam"

Bản kết luận giám định số 2987/KL-KTHS ngày 27 tháng 4 năm 2024 của Phòng K - Công an thành phố H, kết luận số ma túy thu giữ của Tạ Thị N:

“- 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ bìa cứng màu đen và 01 tầu cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng đều dính ma túy loại Ketamine;

- 01 cóong thủy tỉnh có dính ma túy loại Methamphetamine;

- 01 hộp nhựa hình trụ tròn nhãn hiệu Dove bên trong gồm có:

  • + Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,365 gam;
  • + Chất bột màu trắng bên trong 08 gói nilon màu xanh và 05 gói giấy bạc màu trắng bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 3,348 gam;
  • + Chất bột màu trắng bên trong 17 gói nilon màu xanh đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 1,376 gam;
  • + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,308 gam;
  • + Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,176 gam;
  • + 20 viên vén màu hồng bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,939 gam;
  • + 01 cân điện tử màu nâu có dính ma túy loại Heroine."

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Hồng L1, Trần Công T1, Nguyễn Ngọc DTạ Thị N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai nhận của L1, T3, D và N phù hợp nhau, phù hợp lời khai của người người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình điều tra.

Đối với Ngô Hồng L1, Cơ quan điều tra không thu giữ được ma túy nên không đủ căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với L1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người bán ma túy cho N sử dụng số điện thoại 0775.942.xxx, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là anh Nguyễn Quý H2 (sinh năm 1972, HKTT: A5 Tập thể khảo sát xây dựng, phường P, quận B, thành phố Hà Nội). Tại Cơ quan điều tra, anh H2 khai có đăng ký sử dụng số điện thoại này từ tháng 01/2024 nhưng khoảng tháng 02/2024, anh H2 đã bị mất điện thoại bao gồm cả sim, anh H2 không làm lại sim và từ đó đến nay anh H2 không sử dụng số điện thoại này. Anh H2 không quen biết ai tên Tạ Thị N. Cơ quan điều tra đã cho N nhận dạng và xác định anh H2 không phải là người bán ma túy cho N nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với xe máy Honda Vision màu đen, BKS: 29P1 – 759.74 thu giữ của Trần Công T1, quá trình điều tra xác định chủ đăng ký xe là Trần Công T1. Cơ quan điều tra đã giám định số khung, số máy xác định là số nguyên thủy. Quá trình điều tra, Trần Công T1 và vợ là Lê Thị H1 đều khai là xe do chị H1 mua. Khoảng đầu năm 2019, khi mua chị H1 chưa có hộ khẩu ở Hà Nội nên để Trần Công T1 đứng tên chủ đăng ký xe. Chị H1 là người quản lý, sử dụng xe, chị H1 cho T1 mượn xe, không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của T1. Cơ quan điều tra đã chuyển xe máy trên đến Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình để xử lý theo thẩm quyền.

Bản cáo trạng số 185/CT-VKS ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình truy tố bị cáo Tạ Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015, truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, truy tố bị cáo Trần Công T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và khai: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, tại trước cửa nhà của Tạ Thị N địa chỉ số S hẻm D, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, Tạ Thị N có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine cho Ngô Hồng L1. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/4/2024, tại khu vực hồ G, phường G, quận B, thành phố Hà Nội, Ngô Hồng L1 bị Cơ quan công an kiểm tra hành chính, trước đó L1 đã ném gói ma túy này xuống hồ G (không thu giữ được).

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 17/4/2024, tại trước cửa nhà của Tạ Thị N địa chỉ số S hẻm D phường N, quận B, thành phố Hà Nội, Tạ Thị N có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,273 gam cho Trần Công T1. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, tại khu vực ngã tư L - Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, Trần Công T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,273 gam ma túy loại Heroine vừa mua của Tạ Thị N, mục đích để sử dụng, bị bắt quả tang.

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, tại tầng 02 nhà số B hẻm D K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, Tạ Thị N có hành vi tàng trữ 5,089 gam ma túy Heroine, 2,247 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,176 gam ma túy loại Ketamine mục đích để bán kiếm lời.

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, tại phòng 604 tại nhà số D ngách F Đ, phường V, quận B, thành phố Hà Nội, Nguyễn Ngọc D có hành vi tàng trữ trái phép 0,133 gam ma túy loại Heroine và 0,338 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo Tạ Thị N đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Tạ Thị N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, p, q khoản 2 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Ngọc D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Hành vi của bị cáo Trần Công T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Công T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015.

Đề nghị xử phạt đối với từng bị cáo như sau:

  • Bị cáo Tạ Thị N: Đề nghị từ 09 đến 10 năm tù.
  • Bị cáo Nguyễn Ngọc D: Đề nghị từ 24 đến 30 năm tù.
  • Bị cáo Trần Công T1: Đề nghị từ 14 đến 16 năm tù.

Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.

Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ bìa cứng màu đen và 01 tầu cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng đều dính ma túy loại Ketamine.
  • + 01 cóong thủy tỉnh có dính ma túy loại Methamphetamine.
  • + 01 hộp nhựa hình trụ tròn nhãn hiệu Dove bên trong gồm có: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,365 gam; Chất bột màu trắng bên trong 08 gói nilon màu xanh và 05 gói giấy bạc màu trắng bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 3,348 gam; Chất bột màu trắng bên trong 17 gói nilon màu xanh đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 1,376 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,308 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,176 gam; 20 viên vén màu hồng bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,939 gam; 01 cân điện tử màu nâu có dính ma túy loại Heroine thu giữ của Tạ Thị N;
  • + 01 vỏ hộp giấy kim tiêm bên trong gồm có: 01 vỏ nilon kim tiêm bên trong chứa: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilon màu xanh là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,133 gam; Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,338 gam thu giữ của Nguyễn Ngọc D;
  • + 01 gói nilon màu xanh là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,273 gam thu giữ của Trần Công T1.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước:

  • + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung A55 5G màu hồng (có sim); 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo màu xanh (có sim); Số tiền 205.000 đồng thu giữ của Tạ Thị N;
  • + 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Ngọc D;
  • + 01 ĐTDD Oppo màu xanh (IMEI: 867226055331014, có sim); Số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Trần Công T1;
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77S màu đen đã cũ, có số imei: 866996060128453 bên trong có sim thu giữ của Ngô Hồng L1.
  • + Buộc bị cáo Tạ Thị N phải truy nộp lại 2.300.000 đồng tiền do phạm tội mà có.

- Trả lại chị Lê Thị H1 01 xe máy Honda Vision màu đen, BKS: 29P1-759.74 thu giữ của Trần Công T1;

Tại phiên tòa các bị cáo Tạ Thị N, Nguyễn Ngọc DTrần Công T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt trước khi Hội đồng xét xử nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi Tạ Thị N, Nguyễn Ngọc DTrần Công T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là thống nhất với nhau, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng K Công an thành phố H, cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, tại trước cửa nhà của Tạ Thị N địa chỉ số S hẻm D, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, Tạ Thị N có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine cho Ngô Hồng L1. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/4/2024, tại khu vực hồ G, phường G, quận B, thành phố Hà Nội, Ngô Hồng L1 bị Cơ quan công an kiểm tra hành chính, trước đó L1 đã ném gói ma túy này xuống hồ G (không thu giữ được).

Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 17/4/2024, tại trước cửa nhà của Tạ Thị N địa chỉ số S hẻm D phường N, quận B, thành phố Hà Nội, Tạ Thị N có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy loại Heroine, khối lượng 0,273 gam cho Trần Công T1. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, tại khu vực ngã tư L - Đ, phường N, quận B, thành phố Hà Nội, Trần Công T1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,273 gam ma túy loại Heroine vừa mua của Tạ Thị N, mục đích để sử dụng, bị bắt quả tang.

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 17/4/2024, tại phòng 604 tại nhà số D ngách F Đ, phường V, quận B, thành phố Hà Nội, Nguyễn Ngọc D có hành vi tàng trữ trái phép 0,133 gam ma túy loại Heroine và 0,338 gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng.

Thu giữ tại tầng 02 nhà số B hẻm D K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội Tạ Thị N thu giữ 5,089 gam ma túy Heroine, 2,247 gam ma túy loại Methamphetamine, 0,176 gam ma túy loại Ketamine, N khai mục đích để bán kiếm lời.

Đủ cơ sở kết luận : Tạ Thị N phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, p, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự 2015.

Đủ cơ sở kết luận : Nguyễn Ngọc D phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Đủ cơ sở kết luận : Trần Công T1 phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

[3] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, nó hủy hoại sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác trong xã hội, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình có người thân mắc nghiện. Vì những tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà nước ta cũng như các Quốc gia khác trên thế giới đều kiên quyết bài trừ ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bản thân các bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, song do nghiện ma túy, thích hưởng lời bất chính và coi thường pháp luật, nên các bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, mà còn tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết và phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân của từng bị cáo:

Bị cáo Tạ Thị N là đối tượng nghiện ma túy, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn nhiều lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho nhiều con nghiện khác nhau, trong đó có bị cáo T1 và đối tượng L1 đã mua ma túy của bị cáo và bị bắt. Nhân thân bị cáo N đã có 02 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đang nằm trong thời hiệu chưa được xóa án tích song không sửa đổi lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Lần này bị cáo bán ma túy nhiều lần, nhiều loại ma túy và tái phạm nguy hiểm là các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nên xét xử bị cáo theo điểm b, q, p khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Bị cáo Nguyễn Ngọc D là đối tượng có nhân thân xấu, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý tàng trữ tại nơi ở của mình nhiều loại ma tuý mục đích để sử dụng. Nhân thân bị cáo D đã có 03 tiền án từ năm 2003 đến năm 2018, mặc dù hết thời hiệu đương nhiên được xóa án tích song không sửa đổi lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện bị cáo là người rất coi thường pháp luật.

Bị cáo Trần Công T1 là một công dân song không chịu tu dưỡng rèn luyện đạo đức nghiện ma tuý nên đã đi vào con đường phạm tội. Nhân thân bị cáo mặc dù chưa có tiền án, tiền sự, song do coi thường pháp luật nên đã cố ý tàng trữ ma túy trong người, mục đích để sử dụng.Vì vậy cần có mức hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xét đến tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo N và bị cáo D đầu thú nên tòa áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2 điều 51 đối với bị cáo N và D) Bộ luật hình sự để giảm cho các bị cáo một phần hình phạt.

Hội đồng xét xử quyết định tạm giam mỗi bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án.

[6] Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra các bị cáo còn phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 các Điều 249 và Điều 251 Bộ luật hình sự. Song xét thấy các bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo.

[7] Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ bìa cứng màu đen, 01 cóong thủy tỉnh có dính ma túy loại Methamphetamine. 01 hộp nhựa hình trụ tròn nhãn hiệu Dove bên trong gồm có: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,365 gam; Chất bột màu trắng bên trong 08 gói nilon màu xanh và 05 gói giấy bạc màu trắng bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 3,348 gam; Chất bột màu trắng bên trong 17 gói nilon màu xanh đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 1,376 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,308 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng 0,176 gam; 20 viên vén màu hồng bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 1,939 gam; 01 cân điện tử màu nâu có dính ma túy loại Heroine thu giữ của Tạ Thị N;
  • + 01 vỏ hộp giấy kim tiêm bên trong gồm có: 01 vỏ nilon kim tiêm bên trong chứa: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilon màu xanh là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,133 gam; Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,338 gam thu giữ của Nguyễn Ngọc D;
  • + 01 gói nilon màu xanh là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,273 gam thu giữ của Trần Công T1.

- Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo Tạ Thị N là tiền do bán ma tuý mà có nên áp dụng 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.tịch thu để sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc D nên áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ của Trần Công T1, tại phiên tòa bị cáo khai là tiền của bị cáo nên áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo N: 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng cuốn làm tẩu hút ma túy đều dính ma túy loại Ketamine nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Samsung A55 5G màu hồng (có sim); 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Oppo màu xanh (có sim) (thu giữ của Tạ Thị N); 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng (thu giữ của Nguyễn Ngọc D); 01 ĐTDD Oppo màu xanh (IMEI: 867226055331014, có sim) (thu giữ của Trần Công T1), các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77S màu đen đã cũ, có số imei: 866996060128453 bên trong có sim thu giữ của Ngô Hồng L1, người liên quan, anh L1 có lời khai tại cơ quan điều tra không nhận lại điện thoại di động trên nên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Bị cáo Tạ Thị N tại phiên tòa đã khai nhận 05 lần bán ma túy, mỗi lần 500.000 đồng, thu được 2.500.000 đồng đã ăn tiêu 2.300.000 đồng. Cơ quan điều tra mới thu giữ được 200.000 đồng. Còn lại 2.300.000 đồng chưa được thu giữ. Xét thấy đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên buộc bị cáo phải truy nộp lại để tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: - Bị cáo Tạ Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

- Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Bị cáo Trần Công T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Tạ Thị N 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.

Căn cứ: Điểm i khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Ngọc D 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.

Căn cứ: Điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Trần Công T1 16 (mười sáu) tháng. Thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2024.

Căn cứ Điều 106, 135, khoản 2 Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Căn cứ điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2013/UBTVQH 14 ngày 30/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) bao niêm phong bên trong chứa 0,273 gam ma túy loại Heroine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Trần Công T1; 01 (một) hộp giây kim tiêm được niêm phong bên trong có 0,133 gam ma túy loại Heroine và 0,338 gam ma túý loại Methamphetamine đã qua giám định; 02 (hai) túi nilon chứa kim tiêm chưa qua sử dụng, bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Nguyễn Ngọc D; 01 (một) hộp niêm phong bên trong có đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ bìa cứng màu đen đều dính ma tuý Ketamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Tạ Thị N; 01 (một) bao niêm phong bên trong chứa hộp trụ nhãn hiệu Dove bên trong chứa 5,089 gam Heroine; 2,247 gam Methamphetamine, 0,176 gam Ketamine, 01 cân điện tử màu nâu có dính ma tuý loại heroine; 01 coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và Tạ Thị N (theo biên bản giao vật chứng số 07 ngày 15/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình).

+ Tịch thu: Số tiền 200.000 đồng của bị cáo N, 1.000.000 đồng của bị cáo D và 1.000.000 đồng của bị cáo T1 (theo Giấy nộp tiền ngày 15/10/2024 tại Ngân hàng TMCP C1– Chi nhánh B1); 01 (một) tờ tiền 5.000 đồng thu giữ của bị cáo Tạ Thị N được cuốn thành tẩu hút ma túy (hiện đang giữ tại biên bản giao vật chứng số 07 ngày 15/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã qua sử dụng, có số Imei: 867226055331014 bên trong có sim điện thoại không kiểm tra chất lượng bên trong máy (thu giữ của Trần Công T1); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng có số imei 35869209491580 bên trong có sim điện thoại, không kiểm tra chất lượng bên trong máy (thu giữ của Nguyễn Ngọc D); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A55 5G màu hồng, đã cũ, bên trong có sim điện thoại không kiểm tra chất lượng bên trong máy (thu giữ của Tạ Thị N); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, đã cũ, vỡ nắp lưng bên trong có sim điện thoại không kiểm tra chất lượng bên trong máy (thu giữ của Tạ Thị N); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77S màu đen đã cũ, có số imei: 866996060128453 bên trong có sim điện thoại không kiểm tra chất lượng bên trong máy (Thu giữ của Ngô Hồng L1, người liên quan) (theo biên bản giao vật chứng số 07 ngày 15/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình) để sung quỹ Nhà nước.

  • Buộc bị cáo Tạ Thị N phải truy nộp lại số tiền 2.300.000 (Hai triệu ba trăm ngàn) đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Trả lại chị Lê Thị H1 P420 Nhà C1, Tập thể B T, phường X, quận B, thành phố Hà Nội 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Vision màu đen BKS: 29P1 - 75974, số khung: 024086; số máy: 2087813 (thu giữ của Trần Công T1) (theo biên bản giao vật chứng số 07 ngày 15/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình)

    - Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    - Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Nơi nhận:

    • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội.
    • - Viện kiểm sát ND Quận Ba Đình.
    • - Viện kiểm sát ND TP Hà Nội.
    • - Chi cục thi hành án Dân sự Quận Ba Đình.
    • - UBND phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
    • - UBND phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
    • - UBND phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
    • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội.
    • - Bị cáo.
    • - Lưu

    THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

    Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

    ĐÃ KÝ

    Ngô Thị Vân

    THÔNG TIN BẢN ÁN

    Bản án số 191/2024/HSST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

    • Số bản án: 191/2024/HSST
    • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
    • Cấp xét xử: Sơ thẩm
    • Ngày ban hành: 24/10/2024
    • Loại vụ/việc: Hình sự
    • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
    • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
    • Đính chính: Đang cập nhật
    • Thông tin về vụ/việc: - Bị cáo Tạ Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - Bị cáo Trần Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
    Tải về bản án
    Hỗ trợ trực tuyến
    Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger