Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 191/2024/HS-ST

Ngày: 10 -12- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Sử
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Võ Hoàng Vũ;
  • 2/ Ông Lê Anh Khoa;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Kỳ Quang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoài Phương – Kiểm sát viên.

Vào ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 203/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 924/2024/QĐXXST-HS, ngày 27/11/2024 đối với các bị cáo:

1/ LÝ TẤN PHƯỚC; - Giới tính: Nam;

  • - Tên gọi khác: Không có.
  • - Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1998; - Nơi sinh: Cần Thơ;
  • - Nơi ĐKTT: A N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
  • - Chỗ ở: 3 N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ;
  • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: không;
  • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Thợ máy;
  • - Họ tên cha: Lý Thanh H, sinh năm 1971;
  • - Họ tên mẹ: Cao Thị X (Đã chết);
  • - Họ tên vợ: Lê Thị Y, sinh năm 1998;
  • - Con ruột: có 01 người, sinh năm 2022;
  • - Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 28/7/2024, đến ngày 06/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

2/ TRẦN CHÍ L; - Giới tính: Nam;

  • - Tên gọi khác: Không có;
  • - Sinh ngày 16 tháng 11 năm 1988; - Nơi sinh: Cà Mau;
  • - Nơi ĐKTT: 246/24K Tầm Vu, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  • - Chỗ ở: KDC Bình Phó A, tổ 15, khu vực Bình Phó A, phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ;
  • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: không;
  • - Trình độ học vấn: 12/12; - Nghề nghiệp: Buôn bán;
  • - Họ tên cha: Trần Văn H1 (Đã chết);
  • - Họ tên mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1961;
  • - Chị ruột: 02 người, sinh năm 1982 và 1985;
  • - Họ tên vợ: Danh Thị Kim C, sinh năm 1998;
  • - Con ruột: có 01 người, sinh năm 2021;
  • - Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 28/7/2024, đến ngày 06/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

3/ TRẦN TRƯỜNG SANG; - Giới tính: Nữ;

  • - Tên gọi khác: M;
  • - Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1999; - Nơi sinh: Hậu Giang;
  • - Nơi ĐKTT: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
  • - Chỗ ở: nhà trọ không số hẻm G T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ;
  • - Quốc tịch: Việt Nam; - Dân tộc: Kinh; - Tôn giáo: không;
  • - Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm thuê (Nhân viên phục vụ);
  • - Họ tên cha: Trần Trường A (Đã chết);
  • - Họ tên mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1973;
  • - Em ruột: 01 người, sinh năm 2008;
  • - Họ tên chồng: Nguyễn Trung H2, sinh năm 1995 (Đã chết);
  • - Con ruột: có 01 người, sinh năm 2020;
  • - Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 28/7/2024, đến ngày 06/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Thanh T, sinh năm 2004 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/7/2024, sau khi uống cà phê thì Lý Tấn P1 và Trần Chí L rủ nhau đến quán K, địa chỉ A T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ để ca hát và uống rượu bia. Khi đến Karaoke P, P1 và L thuê phòng số 222, cả hai thống nhất mua ma túy sử dụng và rủ thêm 02 tiếp viên nữ để phục vụ và cùng sử dụng ma túy. P1 liên lạc qua điện thoại với Trần Trường S (Tiếp viên nữ tự do) nhờ S mua giùm ma túy loại Ketamine và thuốc lắc mang đến phòng 222 để cả nhóm cùng sử dụng; đồng thời nói S rủ thêm Phạm Thanh T cùng đến phục vụ ca hát và sử dụng ma túy; S liên hệ với đối tượng tên “Báo Trung” mua ½ hộp năm Ketamine và 02 viên thuốc lắc theo yêu cầu của P1.

Sau khi S và T vào phòng 222 một lúc thì có đối tượng nam mang ma túy loại Ketamine vào đưa cho P1, L xem rồi mang vào nhà vệ sinh để xào ra dĩa mang ra cho cả nhóm sử dụng; do đối tượng tên “Báo Trung” hết thuốc lắc nên S nhờ nhân viên nam của quán (Không biết họ tên) mua giùm 02 viên thuốc lắc, sau đó S đưa cho P1. Cả nhóm P1, L, S và T cùng nhau sử dụng ma túy loại Ketamine và thuốc lắc đến khoảng 01 giờ ngày 28/7/2024 thì lực lượng Công an vào kiểm tra, khám xét thu giữ vật chứng sau:

  • - Chất bột màu trắng thu trên dĩa sứ màu trắng, được để vào 01 gói nilon không màu nẹp miệng niêm phong theo quy định;
  • - 01 dĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa, 01 quẹt gas, 01 tờ tiền Việt Nam loại polymer mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, số sê-ri: G5CVX5XVY4, sim số 0767222488 (Thu giữ của Lý Tấn P1);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, số sê-ri KGXD263N12, sim số 0774814553 (Thu giữ của Phạm Thanh T);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số sê-ri FCJC41HNN70G, sim số 0784581453 (Thu giữ của Trần Trường S);
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số sê-ri FK1Z98TN70X (Thu giữ của Trần Chí L) (Bút lục: 17-19).

Tại Kết luận giám định số 215/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố C kết luận: 01 gói nilon không màu nẹp miệng bên trong chứa chất bột màu trắng là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,3227 gam. (Bút lục: 84).

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Lý Tấn P1, Trần Chí L khai nhận do có nhu cầu sử dụng ma túy nên cả hai thống nhất mua ma túy, rủ thêm các tiếp viên cùng sử dụng ma túy, việc sử dụng ma túy P1, L không yêu cầu các tiếp viên phải hùn tiền, tất cả chi phí do P1, L cùng chi trả; đồng thời, sau cuộc chơi, P1, L sẽ trả tiền cho mỗi tiếp viên 1.500.000 đồng. Đối với tiền mua ma túy, P1, L sau cuộc chơi sẽ đưa cho S để trả cho người bán ma túy.

Bị cáo Trần Trường S cũng khai nhận vào tối ngày 27/7/2024, S được Lý Tấn P1 rủ đến quán K để phục vụ và sử dụng ma túy thì S nói phải “bo” (Tức bồi dưỡng) 1.500.000 đồng/mỗi người tiếp viên thì P1 đồng ý. Bị cáo cũng đã rủ thêm Phạm Thanh T cùng đến sử dụng ma túy với P1 và L, đồng thời bị cáo cũng trực tiếp liên hệ mua ma túy giùm P1. Đến 01 giờ ngày 28/7/2024, khi cả nhóm đang sử dụng ma túy tại phòng 222 Karaoke P thì bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ ma túy loại Ketamine còn lại; việc sử dụng ma túy bị cáo không phải hùn tiền.

Phạm Thanh T khai nhận: tối ngày 27/7/2024, T được S rủ đến phòng 222 quán K để phục vụ khách rồi nhận tiền bo 1.500.000 đồng thì T đồng ý. Tại phòng 222, T cùng với S, P1, L sử dụng ma túy loại Ketamine và thuốc lắc; T không biết nguồn gốc ma túy, không hùn tiền sử dụng ma túy. Qua kiểm tra, T dương tính với ma túy nên Công an quận N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong ngày 17/9/2024. Cơ quan điều tra cũng đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, số sê-ri KGXD263N12, sim số 0774814553 cho Phạm Thanh T (Bút lục: 185-187; 188-190).

Đối với 0,3227 gam ma túy, loại Ketamine thu giữ do chưa đủ khối lượng để xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Lý Tấn P1, Trần Chí L và Trần Trường S.

Đối với đối tượng tên “Báo Trung” - bán trái phép ma túy và đối tượng nam ở Karaoke Phượng Hoàng mua giùm Sang 02 viên thuốc lắc, do chưa xác định được họ tên thật và địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý.

Tại bản Cáo trạng số: 210/CT-VKSNK, ngày 19 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều truy tố các bị cáo Lý Tấn P1, Trần Chí L và Trần Trường S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị như sau:

*Về trách nhiệm hình sự:

  1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 255, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với Lý Tấn P1.
  2. Xử phạt: Bị cáo Lý Tấn P1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

  3. Áp dụng: Khoản 1 Điều 255, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Chí L.
  4. Xử phạt: Bị cáo Trần Chí L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

  5. Áp dụng: Khoản 1 Điều 255, Điều 38, Điều 17, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Trường S.
  6. Xử phạt: Bị cáo Trần Trường S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

*Về xử lý vật chứng:

Đề nghị áp Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong số 215/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố C; 01 dĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa; 01 hột quẹt ga.
  • - Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, số sê-ri: G5CVX5XVY4, sim số 0767222488 (Thu giữ của Lý Tấn P1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số sê-ri FCJC41HNN70G, sim số 0784581453 (Thu giữ của Trần Trường S); 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
  • - Đề nghị trả lại cho bị cáo Trần Chí L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số sê-ri FK1Z98TN70X thu giữ của Trần Chí L.

(Vật chứng theo Biên bản v/v giao nhận vật chứng ngày 20/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều)

Ghi nhận Cơ quan điều tra cũng đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, số sê-ri KGXD263N12, sim số 0774814553 cho Phạm Thanh T.

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại lời nói sau cùng các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo Lý Tấn P1, Trần Chí L, Trần Trường S đều khai nhận vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 27/7/2024, Bị cáo P1 và bị cáo L thống nhất hùn mua ma túy gồm Ketamine và thuốc lắc để sử dụng và cung cấp ma túy cho Phạm Thanh T cùng sử dụng. Bị cáo Trần Trường S giúp sức mua ma túy cho bị cáo P1, L và cùng P1, L tổ chức cho Phạm Thanh T sử dụng trái phép ma túy nên phạm tội với vai trò đồng phạm. Cả nhóm P1, L, S và T cùng nhau sử dụng ma túy loại Ketamine và thuốc lắc đến khoảng 01 giờ ngày 28/7/2024 thì lực lượng Công an vào kiểm tra, khám xét, thu giữ số ma túy còn dư lại chưa sử dụng hết.

Do đó, có đủ căn cứ buộc bị cáo Lý Tấn P1, Trần Chí L, Trần Trường S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo theo điều khoản luật đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét thấy, các bị cáo là người đủ năng lực hành vi dân sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất cấm do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện, các bị cáo thống nhất hùn mua ma túy gồm Ketamine và thuốc lắc để sử dụng và cung cấp ma túy cho Phạm Thanh T cùng sử dụng. Bị cáo Trần Trường S giúp sức mua ma túy cho bị cáo P1, L và cùng P1, L tổ chức cho Phạm Thanh T sử dụng trái phép ma túy. Hành vi mà các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[3] Về nhân thân các bị cáo và các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhận thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ các bị cáo Lý Tấn P1, Trần Chí L, Trần Trường S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Riêng bị cáo Trần Trường S gia đình có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015

[4] Xét thấy, mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp và có cơ sở chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng: Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, Hội đồng xét xử thống nhất.

[6] Đối với 0,3227 gam ma túy, loại Ketamine thu giữ do chưa đủ khối lượng để xử lý hình sự, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với Lý Tấn P1, Trần Chí L và Trần Trường S nên Hội đồng xử xử không đặt ra xem xét.

Đối với đối tượng tên “Báo Trung” - bán trái phép ma túy và đối tượng nam ở Karaoke Phượng Hoàng mua giùm Sang 02 viên thuốc lắc, do chưa xác định được họ tên thật và địa chỉ nên kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ: Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Các bị cáo Lý Tấn P1, Trần Chí L và Trần Trường S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”;

  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lý Tấn P1:
  • + Xử phạt: Bị cáo Lý Tấn P1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 28/7/2024.
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Chí L:
  • + Xử phạt: Bị cáo Trần Chí L 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 28/7/2024.
  • - Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Trần Trường S:
  • + Xử phạt: Bị cáo Trần Trường S 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 28/7/2024.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

  • - Tịch thu tiêu hủy:
  • 01 gói niêm phong số 215/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố C; 01 dĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa; 01 hột quẹt ga.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, số sê-ri: G5CVX5XVY4, sim số 0767222488 (Thu giữ của Lý Tấn P1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số sê-ri FCJC41HNN70G, sim số 0784581453 (Thu giữ của Trần Trường S); 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.
  • - Trả lại cho bị cáo Trần Chí L:
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, số sê-ri FK1Z98TN70X (Thu giữ của Trần Chí L).

(Vật chứng theo Biên bản v/v giao nhận vật chứng ngày 20/11/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều)

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND Q. Ninh Kiều;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - Chi Cục THADS Q. Ninh Kiều;
  • - Cơ quan điều tra - Công an Q. Ninh Kiều;
  • - Cơ quan THA Hình sự có thẩm quyền;
  • - Bị cáo, NCQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Sử

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 191/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LÝ TẤN PHƯỚC CÙNG ĐỒNG PHẠM TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger