|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 191/2024/ HS-PT Ngày: 17/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: | Ông Trần Minh Long |
| Các thẩm phán: | Ông Bùi Trọng Danh |
| Ông Trần Hữu Vinh |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ - Thư ký TAND TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 170/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Kim T do có kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Nguyễn Thị Kim T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2024/HS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Kim T. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 09.3.1985 tại thành phố Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT: Tổ F, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở: Số B L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 12/12. Nghề nghiệp: Buôn bán. Con ông Lê Kim C (sinh năm: 1954, sống) và bà Đồng Thị Hồng P (sinh năm: 1955; sống). Gia đình có 02 chị, em. Bị cáo là con thứ 02. Có vợ là Nguyễn Thị Kim T1 (sinh năm: 1991) và 03 người con (con lớn nhất sinh năm: 2015, con nhỏ nhất sinh năm: 2019). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1991 (Là người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Kim T), đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Trú tại: Số B L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
- Người bào chữa của bị cáo Lê Kim T:
Ông Thiều Hữu M – Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn T2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ. Địa chỉ: Số C C, thành phố Đà Nẵng, có mặt.
2
- Ông Lê Ngọc L và bà Võ Thị Anh L1 – là Luật sư của Công ty L6, thuộc đoàn luật sư thành phố H. Luật sư L có mặt, luật sư L1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 15 giờ 20 phút ngày 25.5.2023, tại trước nhà số C N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan CSĐT Công an quận H phát hiện Lê Kim T đang điều khiển xe ô tô con hiệu Ford biển số 43A-476.56 có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra. Phát hiện, bắt quả tang T đang vận chuyển 2.300 bao thuốc lá điếu không phải do Việt Nam sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ kèm theo. Các bao thuốc lá còn nguyên vẹn, trên bao bì không có chữ tiếng Việt.
Vật chứng thu giữ của T: 2.300 bao thuốc lá điếu, gồm: 10 bao thuốc lá điếu loại MAC COOL BLAST; 10 bao thuốc lá điếu loại MARLBORO (màu đỏ); 10 bao thuốc lá điếu loại MARLBORO GOLD (màu vàng); 100 bao thuốc lá điếu loại ESSE SPECIAL GOLD; 150 bao thuốc lá điếu loại ESSE MENTHOL; 100 bao thuốc lá điếu loại ESSE CLASSIC; 520 bao thuốc lá điếu loại ESSE LIGHTS; 1060 bao thuốc lá điếu loại ESSE CHANGE (màu xanh); 320 bao thuốc lá điếu loại MOUD VARIANCE BLUEBERRY MENTHOL; 20 bao thuốc lá điếu loại MOUD VARIANCE APPLEMINT MENTHOL.
- 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, loại Everest, sản xuất năm 2018, màu trắng, biển số 43A-476.56, số khung: XMAWAJG37442, số máy: YMWQAG37442, dung tích xi lanh: 1996cm³, 07 chỗ ngồi; kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe số 077905 mang tên Lê Kim T; 01 điện thoại di động hiệu Vsmast, màu xanh đen, số Imei khe sim 1: 35458 1111516291, gắn sim số 0777.555.633, số Imei khe sim 2: 35458111151 6309, gắn sim số 0363.321.295; 01 Căn cước công dân số [...], cấp ngày 10.8.2021, mang tên Lê Kim T.
Lúc 18 giờ ngày 25.5.2023, Cơ quan CSĐT Công an quận H khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Kim T tại nhà số B L, P. H, Q. C, TP ., thu giữ: 4.300 bao thuốc lá điếu, gồm: 182 cây (1.820 bao) nhãn hiệu ESSE CHANGE (màu xanh); 30 cây (300 bao) nhãn hiệu ESSE CLASSIC; 06 cây (60 bao) nhãn hiệu ESSE CHANGE MANGO (màu cam); 63 cây (630 bao) nhãn hiệu ESSE SPECIAL GOLD; 79 cây (790 bao) nhãn hiệu ESSE LIGHTS; 35 cây (350 bao) nhãn hiệu ESSE MENTHOL; 21 cây (210 bao) nhãn hiệu CAPRI SUPERSLIMS MENTHOL; 14
3
cây (140 bao) nhãn hiệu MOND VARIANCE BLUEBERRY MENTHOL; 01 quyển vở học sinh, có liên quan đến việc việc kinh doanh, mua bán thuốc lá.
Theo Kết luận giám định số 1074/KL-KTHS ngày 02.6.2023 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Toàn bộ số bao thuốc lá thu giữ của bị cáo T đều không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam (mà là do nước ngoài sản xuất). Tổng số thuốc lá điếu đã thu giữ của Lê Kim T là 6.600 bao. H lại sau giám định 6.070 bao.
Quá trình điều tra, Lê Kim T khai nhận hành vi mua bán thuốc lá điếu nhập lậu như sau: T làm nghề buôn bán nước giải khát, thuốc lá V, đến tháng 3.2023, T thấy có nhiều người hỏi mua thuốc lá ngoại nên T sử dụng tài khoản facebook tên “Nguyen Đat” liên hệ với tài khoản Facebook tên “Quân M1” (chưa xác định được lai lịch) để mua thuốc lá ngoại về bán lại kiếm lời. Ngày 24.5.2023, T mua của “Quân Minh” 5000 bao với số tiền 60.000.000 đồng đem về cất giấu ở nhà. Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 25.5.2023, khi đang chở thuốc lá đi bán cho người có tài khoản Facebook “Thuy Thanh” (chưa xác định được lai lịch) thì bị phát hiện bắt quả tang như trên.
Trước đó, T đã bán thuốc lá cho những người sau: Phạm N - Tạp hóa “Minh Hiếu”): 03 - 04 lần, mỗi lần 10 - 30 bao; Nguyễn Thị V1 - bán tạp hóa tại nhà): 02 - 03 lần, mỗi lần 10 - 20 bao ; Phạm Thị H1 (- bán tạp hóa tại nhà): 03 - 04 lần, mỗi lần 10 - 30 bao; Võ Thị Thanh T3 - Tạp hóa T): 03 - 04 lần, mỗi lần 10 - 40 bao; Lê Thị P1 - Tạp hóa P1): 03 - 04 lần, mỗi lần 10 - 30 bao; Phạm Thị L2 - Tạp hóa T): 03 - 04 lần, mỗi lần 20 - 30 bao; Nguyễn Thị Ngọc L3 - Tạp hóa L): 03 - 04 lần, mỗi lần 10 - 30 bao; Nguyễn Bạch H2 - Tạp hóa B): 02 - 03 lần, mỗi lần 20 - 30 bao; Nguyễn Thị H3 - bán tạp hóa tại nhà): 02 - 03 lần, mỗi lần 10 - 20 bao; Lê Thị V2 - Tạp hóa V): 03 - 04 lần, mỗi lần 10 - 20 bao.
* Tại bản cáo trạng số: 133/CT-VKS ngày 27/11/2023 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu đã truy tố bị cáo Lê Kim T về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 190 BLHS.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2024/HS-ST ngày 26/6/2024, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Kim T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Buôn bán hàng cấm”, trừ đi 09 ngày bị tạm giữ, còn phải chấp hành là 07 (bảy) năm 05 (sáu) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
4
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch sung vào ngân sách nhà nước 01 xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, loại Everest, sản xuất năm 2018, màu trắng, biển số 43A-476.56, số khung: XMAWAJG37442, số máy: YMWQAG37442, dung tích xi lanh: 1996cm³, 07 chỗ ngồi; kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe số 077905 mang tên Lê Kim T.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng khác, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
- Ngày 08 tháng 7 năm 2024, bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị cáo là bà Nguyễn Thị Kim T1 (là vợ bị cáo) đồng ký đơn kháng cáo với nội dung: Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là quá nặng, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng áp dụng hình phạt tiền theo khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và hiện nay bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, thường xuyên phải điều trị bệnh ngoại trú, có hoàn cảnh rất khó khăn, lao động chính trong gia đình nuôi cha mẹ già yếu và 03 con chưa thành niên.
- Cùng ngày 08/7/2024 bà Nguyễn Thị Kim T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đơn kháng cáo với nội dung: Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu toàn bộ chiếc xe ô tô là gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà vì đây là tài sản chung của vợ chồng, bà không biết và không có lỗi trong việc bị cáo T sử dụng xe ô tô làm công cụ, phương tiện phạm tội; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng trả lại cho bà 1 giá trị chiếc xe sau khi đã bán đấu giá, chỉ sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe là phần sở hữu của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Kim T về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật;
+ Về hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm 06 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, hậu quả của vụ án, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được hưởng cũng như đã xét đến nhân thân bị cáo, đây là mức án dưới khung hình phạt; bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 và khoản 2 Điều 190 BLHS là không có căn cứ, nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo về phần hình phạt, giữ nguyên hình phạt 7 năm 6 tháng của bản án sơ thẩm.
+ Về xử lý vật chứng liên quan đến chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, loại Everest, sản xuất năm 2018, màu trắng, biển số 43A-476.56: Đại diện Viện kiểm
5
sát xác định đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân; vợ bị cáo là bà Nguyễn Thị Kim T1 không biết, không tham gia và không có lỗi trong việc bị cáo T sử dụng chiếc xe này làm phương tiên phạm tội, nên đề nghị HĐXX căn cứ vào hướng dẫn tại tiểu mục 1.2, mục 1 Văn bản số 2160/VKSNDTC – V14 ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, không tịch thu 1/2 giá trị của chiếc xe ô tô là phần sở hữu hợp pháp của bà T1, mà chỉ tịch thu 1/2 giá trị của chiếc xe ô tô là phần sở hữu của bị cáo.
- Bị cáo Lê Kim T thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử là đúng; bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được chuyển hình phạt tiền; trường hợp không áp dụng hình phạt tiền thì bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.
- Bà Nguyễn Thị Kim T1 giữ nguyên nội dung kháng cáo: Xin áp dụng hình phạt tiền với mức phạt 02 tỷ đồng đối với bị cáo thay cho hình phạt tù và xin trả lại cho bà 1 giá trị chiếc xe sau khi đã bán đấu giá để sung công quỹ Nhà nước 1/2 giá trị chiếc xe là phần sở hữu của bị cáo. Trong phần tranh luận, bà T1 thay đổi nội dung kháng cáo: Trường hợp không áp dụng được hình phạt tiền thì bà đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho chồng của bà và xin trả lại cho bà 1 giá trị của chiếc xe ô tô.
- Quan điểm bào chữa của các vị luật sư Thiều Hữu M và Lê Ngọc L cho bị cáo T: Các luật sư đều không có ý kiến gì về tội danh và khung hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo T. Tuy nhiên, các luật sư đều cho rằng mức hình phạt 07 năm 06 tháng tù đối với bị cáo là quá nghiêm khắc; với tính chất mức độ phạm tội, hậu quả của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo, đối chiếu với các quy định của pháp luật tại Điều 35, Điều 54 và khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự thì bị cáo có đủ điều kiện, căn cứ pháp luật để áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo; hiện nay bị cáo và gia đình đã vay mượn được số tiền 02 tỷ đồng; do vậy đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét áp dụng khoản 2 Điều 190; Điều 54 và Điều 35 Bộ luật hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo chuyển hình phạt tù thành hình phạt tiền 02 tỷ đồng đối với bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu, đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, chưa gây hậu quả hoặc gây hậu quả không lớn, đã tích cực hợp tác với quan chức năng và cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; phù hợp với quan điểm đường lối xử lý và chủ trương tăng cường áp dụng hình phạt tiền đối với các tội phạm về kinh tế của Nhà nước và theo hướng dẫn Giải đáp tại Văn bản số 01/GĐ-TANDTC ngày 25/7/2016.
6
Ngoài ra, luật sư L còn đề nghị khi xem xét kháng cáo và quyết định hình phạt đối với bị cáo T cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”, và “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” giúp cho cơ quan chức năng xử phạt hành chính là phạt tiền và truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền trên 200 triệu đồng; quy định tại các điểm h, t khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo và xem xét thêm các tình tiết về điều kiện sức khỏe, bệnh tật của bị cáo, hoàn cảnh gia đình của bị cáo còn phải nuôi cha mẹ già yếu và 03 con chưa thành niên, cha bị cáo là người có công với cách mạng để chấp nhận kháng cáo chuyển hình phạt tù sang hình phạt tiền cho bị cáo.
Các luật sư cũng thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa về phần xử lý vật chứng là: Căn cứ khoản 3 Điều 47 BLHS và tiểu mục 1.2, mục 1 Văn bản số 2160/VKSNDTC – V14 ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, chấp nhận kháng cáo của bà T1, không tịch thu 1/2 giá trị của chiếc xe ô tô là phần sở hữu hợp pháp của bà T1, mà chỉ tịch thu 1/2 giá trị của chiếc xe ô tô là phần sở hữu của bị cáo
N1 lời sau cùng: Bị cáo mong HĐXX xem xét nguyện vọng kháng cáo của bị cáo, nếu không được phạt tiền thì xin giảm nhẹ mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội chăm sóc cha mẹ già và các con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lúc 15 giờ 20 phút ngày 25.5.2023, tại trước nhà số C N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan CSĐT Công an quận H phát hiện, bắt quả tang Lê Kim T đang vận chuyển 2.300 bao thuốc lá điếu đi bán cho người khác. Khám xét thu giữ tại chỗ ở của T 4.300 bao thuốc lá điếu các loại. Tổng cộng là 6.600 bao, đều là thuốc lá điếu không phải do Việt Nam sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ kèm theo và nhằm mục đích để bán cho người khác.
Quá trình giải quyết vụ án, Lê Kim T khai nhận: T làm nghề buôn bán nước giải khát, thuốc lá V, đến tháng 3.2023, T thấy có nhiều người hỏi mua thuốc lá ngoại nên T sử dụng tài khoản facebook tên “Nguyen Đat” liên hệ với tài khoản Facebook tên “Quân M1) để mua thuốc lá ngoại về bán lại kiếm lời. Ngày 24.5.2023, T mua của “Quân Minh” 5000 bao với số tiền 60.000.000 đồng đem về
7
cất giấu ở nhà. Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 25.5.2023, khi đang chở thuốc lá đi bán cho người có tài khoản Facebook “Thuy Thanh” thì bị phát hiện bắt quả tang.
Với hành vi như trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Kim T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét đơn kháng cáo về phần hình phạt của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo là bà Nguyễn Thị Kim T1 cũng như luận cứ bào chữa của các luật sư, HĐXX nhận thấy: Điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự quy định: Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 4.500 bao trở lên thì bị phạt tù từ 08 đến 15 năm; điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự quy định: Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ 3.000 bao đến dưới 4.500 bao thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 05 đến 10 năm. Xét trong vụ án này bị cáo T phạm tội với vai trò là người tự khởi xướng và trực tiếp thực hiện tội phạm; mặc dù bị cáo có nhiều (02) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, nhưng bị cáo chỉ đủ điều kiện để áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xử phạt hình phạt tù có thời hạn dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, xét xử nhưng phải trong khung hình phạt liền kề, mà không có căn cứ để áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS để chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn là hình phạt tiền vì khung hình phạt bị cáo bị truy tố, xét xử không phải là khung hình phạt nhẹ nhất của Điều luật hay Điều luật bị cáo bị truy tố, xét xử chỉ có một khung hình phạt. Do đó, không có căn cứ để áp dụng Điều 35, khoản 3 Điều 54 và khoản 2 Điều 190 BLHS để chuyển sang hình phạt tiền như yêu cầu kháng cáo của bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị cáo; luật sư đề nghị áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, t khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo là không phù hợp với quy định của pháp luật và hướng dẫn, giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao, nên HĐXX không chấp nhận.
Tuy nhiên, xét bị cáo là người có nhân thân tốt, từ trước tới nay chưa có tiền án tiền sự, đây là lần đầu bị cáo phạm tội, về nguyên nhân động cơ phạm tội là do điều kiện kinh tế khó khăn sau đại dịch Covid 19, sống chung với cha mẹ già yếu, là lao động chính nuôi 03 con chưa thành niên, cùng với việc trước đây bị cáo làm việc cho công ty C2 đóng tại Đà Nẵng biết được nhiều thông tin, địa chỉ của các tiệm tạp hóa trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nên bị cáo đã nảy sinh ý định tìm nguồn mua thuốc là điếu nhập lậu về bán lại nhằm mục đích kiếm lời trang trải cuộc sống gia đình; số lượng thuốc lá điếu nhập lậu là 6.600 bao nhưng hành vi
8
của bị cáo đã được ngăn chặn kịp thời nên số lượng thuốc lá này chưa được lưu thông trên thị trường; trong suốt quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là người bị bệnh rối loạn sự thích ứng với hổn hợp lo âu và trầm cảm (F43.22) dẫn đến hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi trước, trong và sau khi gây án theo Kết luận giám định số 561/KLGĐ ngày 05/4/2024 của Trung tâm P2. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra tự khai báo ra 10 đại lý, chủ tiệm T5 đã từng mua thuốc lá điếu nhập lậu số lượng nhỏ của bị cáo, giúp cho cơ quan chức năng có căn cứ xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền và truy thu tiền thu lợi bất chính đối với 10 cá nhân có liên quan này, được cơ quan điều tra đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo (được nêu tại Bản kết luận điều tra, Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết này nhưng Tòa án cấp phúc thẩm nhận thấy tình tiết này có thể được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cho bị cáo); ngoài ra quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tự giác khai báo và nộp lại số tiền thu lợi bất chính 5.000.000 đồng từ việc buôn bán thuốc lá điều nhập lậu nhỏ lẻ với các đối tượng có liên quan trên; bản thân bị cáo trước đây đã từng tham gia phục vụ trong quân đội, cha bị cáo ông Lê Kim C là người có công với cách mạng bị địch bắt tù đày, được nhà nước tặng thưởng huy hiệu 40 năm tuổi Đảng và Huân chương kháng chiến hạng 3; tài liệu có tại hồ sơ còn thể hiện mẹ bị cáo là bà Đồng Thị Hồng P được tặng huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, thân nhân Lê Kim T4 và Đoàn Thị L4 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì và Bằng gia đình có công chống Mỹ cứu nước, ông Lê Kim L5 được tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày và huy hiệu 40 năm tuổi Đảng, ông Lê Kim C1 được tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, ông Lê Kim T4 được tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày (tình tiết về nhân thân gia đình này của bị cáo chưa được Tòa án cấp sơ thẩm nhận định và áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt); hiện hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo là lao động chính nuôi cha mẹ già yếu, 03 con chưa thành niên, bị cáo phải thường xuyên điều trị bệnh ngoại trú...Xét bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, mức hình phạt 07 năm 6 tháng tù Tòa sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của
9
pháp luật hình sự Việt Nam đối với người lần đầu phạm tội, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra được quy định tại Điều 3 Bộ luật hình sự; tạo điều kiện cho bị cáo an tâm cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[3] Xét đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T1 đối với việc xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, loại Everest, sản xuất năm 2018, màu trắng, biển số 43A-476.56, HĐXX nhận thấy: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và bà T1, có cơ sở xác định chiếc xe trên là tài sản chung được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bị cáo, nguồn tiền để mua chiếc xe là do cha mẹ bà T1 cho; đây là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng, là phương tiện sử dụng sinh hoạt chung của gia đình; về nguyên tắc nếu vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội thì phải bị tịch thu sung công quỹ nhà nước; tuy nhiên xét việc bị cáo sử dụng chiếc xe ô tô nói trên vào việc phạm tội bà T1 không biết, không tham gia và không có lỗi; nên căn cứ khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự, hướng dẫn tại tiểu mục 1.2, mục 1, phần I Văn bản số 2160/VKSTC –V14 ngày 05/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa phúc thẩm thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà T1, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, sửa một phần bản án sơ thẩm liên quan đến xử lý vật chứng là chiếc xe ô tô nói trên, theo đó: Tịch thu chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, loại Everest, sản xuất năm 2018, màu trắng, biển số 43A-476.56 giao cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành bán đấu giá để tịch thu 1/2 giá trị của chiếc xe phần sở hữu của bị cáo, trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T1 1/2 giá trị của chiếc xe.
[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Do được chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo là bị cáo và bà Nguyễn Thị Kim T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
I. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c, d khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Kim T và bà Nguyễn Thị Kim T1 (người đại diện hợp pháp cho bị cáo đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án), sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt và phần xử lý vật chứng.
10
1. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm q, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Lê Kim T 06 (sáu) năm tù về tội: “Buôn bán hàng cấm”, trừ đi 09 ngày bị tạm giữ, còn phải chấp hành là 05 (năm) năm 11 (mười một) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
- Tịch thu chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, loại Everest, sản xuất năm 2018, màu trắng, biển số 43A-476.56, giao cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành bán đấu giá để tịch thu 1/2 giá trị của chiếc xe phần sở hữu của bị cáo, trả lại cho bà Nguyễn Thị Kim T1 1/2 giá trị của chiếc xe.
II. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Người kháng cáo là bị cáo và bà Nguyễn Thị Kim T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
III. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2024/HS-ST ngày 26/6/2024, Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Long |
11
Bản án số 191/2024/ HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 191/2024/ HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo cho bị cáo Lê Kim T giảm nhẹ hình phạt 6 năm tù
