Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 191/2024/DS-PT

Ngày 12 - 11 - 2024

“ V/v tranh chấp hợp đồng vay”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Châu

Các Thẩm phán:

Ông Ngô Đê

Bà Huỳnh Ái Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và tại điểm cầu thành phần là Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã mở phiên tòa xét xử công khai theo hình thức trực tuyến đối với vụ án vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 209/2024/TLPT-DS ngày 17/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay”

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 77/2024/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 123/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm 2000
  2. Địa chỉ: A, ấp L, phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

  3. Bị đơn: - Chị Trần Thị Thúy A, sinh 1987, vắng mặt;
  4. - Anh Đặng Trí D, sinh năm 1985, vắng mặt;

    Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: Khóm D, phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; chổ ở khi lập biên nhận nợ: Số F, khóm F, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; chổ ở hiện tại: ấp V, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

    Người đại diện theo uỷ quyền của chị A và anh D: Anh Huỳnh Việt T, sinh năm 1982, theo văn bản uỷ quyền ngày 30/10/2024. Địa chỉ ấp S, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, có mặt.

    Người kháng cáo: Chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D là bị đơn trong vụ án.

* Ngoài ra, còn có sự tham gia hỗ trợ tổ chức phiên tòa trực tuyến tại 02 điểm cầu:

  • - Điểm cầu trung tâm có ông Nguyễn Tấn Đ – Cán bộ kỹ thuật của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh;
  • - Điểm cầu thành phần có ông Trần Khánh D1 - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/6/2023 của chị Nguyễn Thị Mỹ C và lời khai tại tòa của người đại diện hợp pháp là chị Trần Anh T1 trình bày và có yêu cầu như sau:

Ngày 09/6/2023 chị Trần Thị Thúy A có thỏa thuận vay của chị Nguyễn Thị Mỹ C số tiền 343.000.000 đồng, thời hạn vay không quy định, mục đích vay làm kinh tế gia đình, lãi suất do 02 bên thoả thuận và việc trả lãi cùng với trả vốn gốc. Khi vay chị Trần Thị Thúy A có làm giấy xác nhận nợ và cam kết sẽ thanh toán nợ gốc và lãi cho chị C đúng như thỏa thuận, tuy nhiên, từ khi vay đến nay chị A và chồng là anh Đặng Trí D không trả vốn và lãi cho chị C.

Nay chị Trần Anh T1 là người đại diện theo uỷ quyền của chị C yêu cầu chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho chị Nguyễn Thị Mỹ C số tiền bằng 343.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi ba triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trần Thị Thúy A trình bày và có yêu cầu như sau:

Chị với chị Nguyễn Thị Mỹ C không có giao dịch về tiền vay, nhưng có giao dịch về việc chơi hụi, theo đó chị C làm đầu thảo hụi còn chị là hụi viên. Từ tháng 02/2023 chị C mở nhiều dây hụi, chị có tham gia nhưng không nhớ chính xác là những dây hụi nào. Chị có kêu hốt hụi nhiều dây và chị C có cấn trừ tiền hụi chết và hụi sống rồi giao tiền hụi cho chị nhiều lần với tổng số tiền bằng 212.070.000 đồng. Sau khi nhận tiền hụi thì đã đóng lại hụi chết cho chị C đến ngày 15/5/2023 với số tiền bằng 291.941.000 đồng xem như hoàn tất việc chơi hụi giữa chị với chị C. Việc chị tham gia chơi hụi với chị C thì chồng của chị là anh Đặng Trí D hoàn toàn không biết, chỉ khi chị C đến nhà báo còn nợ tiền hụi chết thì anh D mới biết.

Đối với giấy xác nhận nợ đề ngày 09/6/2023 với số tiền bằng 343.000.000 đồng, chị đã ký xác nhận nợ cho chị C không phải tiền vay mà là tiền hụi nêu trên, chị C cộng dồn từ các dây hụi chết lại rồi ép buộc và khủng bố về mặt tinh thần nên chị mới ký để được yên ổn làm ăn.

Nay chị A không đồng ý trả số tiền 343.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị Mỹ C theo biên nhận vay ngày 09/6/2023, vì chị không có vay mượn tiền của chị C.

Riêng bị đơn anh Đặng Trí D trình bày tại bản tự khai ngày 19/5/2024 như sau: Việc chị A (vợ anh D) có tham gia chơi hụi với chị C thì anh hoàn toàn không biết, đến khoảng tháng 06/2023 chị C cùng chồng có đến nhà anh thông báo là vợ anh có tham gia chơi nhiều dây hụi do chị C làm đầu thảo, vợ anh còn nợ chị C số tiền hụi tổng cộng bằng 343.000.000 đồng. Khi vợ chồng chị C ra về anh có hỏi chị A về số tiền hụi, chị A cho biết có tham gia chơi nhiều dây hụi với chị C nhưng đã hoàn tất nghĩa vụ về tiền hụi cho chi C, còn biên nhận nợ vay đề ngày 09/06/2023 là do chị C cộng dồn các dây hụi lại rồi cho rằng vợ anh còn nợ và ép buộc vợ anh phải ký giấy nợ vay tiền. Nay anh không đồng ý trả số tiền trên vì không có vay tiền của chị C.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 77/2024/DS-ST ngày 19 tháng 06 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 463, 466, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ C.

Bác lời nại ra và yêu cầu của chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D.

Tuyên xử: Buộc chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho chị Nguyễn Thị Mỹ C số tiền vay bằng 343.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi ba triệu đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất phát sinh do chậm thi hành án, án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 02 tháng 07 năm 2024, chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không buộc chị A cùng anh D phải liên đới trả số tiền 343.000.000 đồng (Ba trăm bốn mươi ba triệu đồng) cho chị C, vì chị A và anh D không có vay tiền của chị C.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ C: không rút đơn khởi kiện nhưng có thay đổi yêu cầu khởi kiện, chị C xác định sau khi lập giấy xác nhận nợ ngày 09/06/2023 thì chị A và anh D có trả dần cho chị C nhiều lần được tổng số tiền bằng 13.000.000 đồng (Trong đó, anh D là người mang tiền trực tiếp trả bằng 6.000.000 đồng, phần còn lại chi A trực tiếp trả bằng 7.000.000 đồng) nên nay chị C chỉ yêu cầu chị A và anh D phải trả số tiền còn lại bằng 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi kể từ ngày lập biên nhận cho đến nay, chị C xác định số tiền trên xuất phát từ giao dịch chơi hụi, chị A tham gia nhiều dây hụi do chị làm chủ hụi và đã kêu hốt tất cả các phần hụi mà chị A tham gia từ tháng 02/2023 đến tháng 06/2023. Mục đích hốt các phần hụi theo chị A trình bày là cần vốn để đưa cho anh D (chồng chị A) mua máy cạp đất, san lắp mặt bằng...., nhưng sau đó do chị A không đóng tiền nên chị đã liệt kê các phần hụi còn thiếu tiền lại, đối chiếu với chị A và thống nhất lập tờ giấy nhận nợ đề ngày 09/6/2023. Anh Đặng Trí D hoàn toàn biết việc chị A tham gia chơi hụi với chị C, sau khi nợ tiền hụi thì chị C cũng đã gặp anh D nhiều lần và anh D cũng hứa trả nợ nhưng sau đó chỉ trả được số tiền 13.000.000 đồng, rồi ngưng không thực hiện trả nợ tiếp, chứ không phải là anh D không biết khoản nợ này.

Đại diện cho bị đơn: Không rút yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm thu thập tài liệu chứng cứ tại cơ quan Công an tỉnh Trà Vinh để chứng minh số tiền nợ theo biên nhận ngày 09/6/2023 xuất phát từ giao dịch hụi, chứ không phải tiền vay và có bổ sung bản giấy tin nhắn trên Zalo qua lại về giao dịch hụi giữa chị C với chị A. Đại diện cho bị đơn (đại diện cho chị A) cũng thừa nhận có tham gia chơi và kêu hốt tất cả các dây hụi do chị C làm chủ hụi được tổng số tiền bằng 212.070.000 đồng nhưng sau khi nhận tiền hụi, chị A đã đóng hụi chết lại cho chị C đến ngày 15/5/2023 bằng 291.941.000 đồng xem như đã hoàn tất việc chơi hụi giữa chị A với chị C. Còn biên nhận ngày 09/6/2023 với số tiền 343.000.000 đồng chị A không có vay nên không đồng ý trả. Riêng anh D thì không biết gì về khoản tiền hụi cũng như khoản tiền vay gì nên không đồng ý trả. Cho rằng, quy định của pháp luật áp dụng để giải quyết tiền vay với quy định của pháp luật để giải uyết tiền hụi là khác nhau, đây là giao dịch hụi nên việc cấp sơ thẩm áp dụng pháp luật về “Hợp đồng tiền vay” để giải quyết là không đúng nên yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm bác đơn khởi kiện về việc tranh chấp tiền vay của chị C, trường hợp chị C có tranh chấp tiền hụi với chị A sẽ được giải quyết bằng 01 vụ kiện “Tranh chấp về tiền hụi”.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn: Qua các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm, cho thấy:

Ngày 09/6/2023 chị Trần Thị Thúy A ký giấy xác nhận nợ, chị A nợ chị C số tiền 343.000.000 đồng được chị A và chị C thừa nhận là có thật, đây là tình tiết không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với chị Trần Thị Thúy A thừa nhận có ký vào giấy xác nhận nợ ngày 09/6/2023, nhưng chị cho rằng đây là số tiền hụi do chị C cộng dồn của nhiều dây hụi chết, chị C đe dọa ép buộc và khủng bố về mặt tinh thần nên chị A ký để yên ổn làm ăn, còn chị với chị C chỉ quan hệ về việc chơi hụi, anh D hoàn toàn không biết và hiện tại chị cũng hoàn thành nghĩa vụ đóng hụi chết cho chị C số tiền 291.941.000 đồng. Tuy nhiên, bảng sao kê của Ngân hàng không thể hiện là đóng tiền hụi hay liên quan gì đến giấy xác nhận nợ chị A ký ngày 09/6/2023. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ;

Đối với yêu cầu anh Đặng Trí D phải có trách nhiệm liên đới trả nợ cho chị Nguyễn Thị Mỹ C số tiền 343.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Nhận thấy: Về chứng cứ nguyên đơn cung cấp tại giấy xác nhận nợ ngày 09/6/2023 thể hiện chỉ chị A ký giấy xác nhận nợ, nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh anh D đồng tình để chị A vay số tiền theo giấy xác nhận nợ. Về nghĩa vụ chứng minh theo quy định tại các Điều 91, 92 của Bộ luật tố tụng dân sự thì nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh. Căn cứ khoản 3 Điều 45 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về “Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình”, đối chiếu với quy định trên, không có căn cứ buộc anh D phải có trách nhiệm liên đới cùng chị A trả số nợ trên cho chị C. Nhưng án sơ thẩm xét xử buộc anh D liên đới cùng chị A trả nợ vay cho chị C là chưa có căn cứ, cho nên kháng cáo của chị A là không có căn cứ để chấp nhận nhưng kháng cáo của anh D là có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, đề xuất căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật dân sự năm 2015, sửa bản án sơ thẩm số: 77/2024/DS-ST ngày 19/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, theo hướng chỉ buộc chị Trần Thị Thúy A trả nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày tranh tụng của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D là còn trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung vụ án, kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[2.1] Theo giấy xác nhận nợ đề ngày 09/6/2023 thể hiện chị Trần Thị Thúy A có vay của chị Nguyễn Thị Mỹ C số tiền 343.000.000 đồng, không thể hiện đây là tiền hụi, không xác định thời gian trả và mục đích vay số tiền như bản án sơ thẩm nhận định. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ C thừa nhận số tiền nợ trên xuất phát từ việc chị A nợ tiền hụi của chị C, đôi bên đã đối chiếu tổng kết từng dây hụi còn nợ và xác định chị A còn nợ chị C số tiền bằng 343.000.000 đồng nên lập biên nhận ngày 09/6/2023. Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện cho chị A và anh D cũng thừa nhận chị A có ký vào giấy xác nhận nợ ngày 09/6/2023 với số tiền nợ chị C là 343.000.000 đồng nhưng việc ký này là do chị C khống chế, ép buộc, tuy nhiên người đại diện cho bị đơn không cung cấp được chứng cứ gì chứng minh biên nhận này là do chị A bị ép buộc phải ký, đồng thời chị A cho rằng đến ngày 15/05/2023 thì chị A đã thanh toán xong các khoản nợ hụi, thì có lý do gì chị A lại ký biên nhận nợ chị C vào ngày 09/06/2023 chỉ với lý do để yên ổn làm ăn?. Do đó, xác định chị A không có vay tiền của chị C tại thời điểm lập biên nhận ngày 09/06/2023 mà đây là khoản nợ tiền hụi chốt thành 01 biên nhận nợ. Khi khởi kiện và tại phiên toà sơ - phúc thẩm, chị C cũng chỉ yêu cầu chị A và anh D trả lại vì số tiền trên chị C xuất ra để đóng choàng hụi cho chị A, chị C cũng không yêu cầu tính lãi suất phát sinh, do vậy bản chất của việc nợ tiền vay hay tiền hụi không thay đổi, chị A và anh D vẫn phải trả số tiền trên cho chị C.

Người đại diện cho anh D cũng không chứng minh được số tiền nợ nêu trên anh D không biết và chị A không mang về để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh, sinh hoạt cho gia đình nên không chấp nhận kháng cáo của anh Đặng Trí D.

Tại phiên toà phúc thẩm, chị C xác nhận chị A và anh D chỉ còn nợ chị C số tiền bằng 330.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy sự thừa nhận trên là tự nguyện, cần được ghi nhận.

[3] Xét ý kiến của Kiểm sát viên cho rằng, việc nợ trên anh D không biết nên không buộc anh D phải liên đới trả nợ. Hội đồng xét xử xét thấy, khoản nợ trên phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của anh D với chị A và trong quá trình giải quyết vụ án, anh D cũng không đưa ra chứng cứ gì chứng minh anh D không biết khoản nợ này; tại phiên toà phúc thẩm chị C khai anh D là người trực tiếp thoả thuận trả nợ và có trả 6.000.000 đồng cho chị C thì người đại diện cho anh D cũng không có ý kiến phản đối gì, cho nên Hội đồng xét xử xác định anh D hoàn toàn biết số nợ trên, do đó anh D phải liên đới chịu trách nhiệm trả số tiền bằng 330.000.000đồng cho chị C là có căn cứ.

Từ đó, Hội đồng xử án phúc thẩm xét thấy kháng cáo của chị A và anh D về việc không đồng ý trả nợ cho chị C là không có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chị C thừa nhận chị A và anh D chỉ còn nợ chị C số tiền 330.000.000đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng) nên cần phải sửa lại án phí dân sự sơ thẩm chị A và anh D phải chịu trên tổng số tiền phải có nghĩa vụ trả, cụ thể: 330.000.000 đồng x 5% = 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng), nộp tại cơ quan thi hành án dân sự;

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Theo quy định khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án quy định “Đương sự kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm, nếu Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí phúc thẩm”. Kháng cáo của chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D không được chấp nhận, chị A và anh D không thuộc trường hợp được miễn án phí nên buộc chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D phải chịu số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009257 ngày 02/07/2024 và số tiền bằng 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009258 ngày 02/07/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Trà Vinh.

[6] Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, không bị sửa đổi, bổ sung có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật tố tụng năm 2015; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D;

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Nguyễn Thị Mỹ C.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 77/2024/DS-ST ngày 19 tháng 06 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mỹ C.
  2. Buộc chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D phải có trách nhiệm liên đới trả cho chị Nguyễn Thị Mỹ C số tiền bằng 330.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D phải chịu số tiền bằng 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng), nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc chị Trần Thị Thúy A và anh Đặng Trí D phải chịu số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009257 ngày 02/07/2024 và số tiền bằng 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0009258 ngày 02/07/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Trà Vinh.
  5. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, không bị sửa đổi, bổ sung có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện C;
  • - Chi cục THADS thành phố Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2024/DS-PT ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng vay

  • Số bản án: 191/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Nguyễn Thị Mỹ C với Trần Thị Thúy A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger