TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 191/2023/HNGĐ-ST Ngày: 15 – 8 – 2023 V/v “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Hoàng Dân.
- Bà Trương Ánh Hoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 338/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 về việc xin ly hôn và nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2023, giữa:
Nguyên đơn: Chị Lê Hồng T, sinh năm: 1986 (Xin vắng mặt);
Nơi cư trú: Nhà trọ Hoàng Phi B, khu phố 2, phường Mỹ P, thị xã BC, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm: 1984 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Đường Sông C, khóm 5, phường Tân X, thành phố CM, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày của chị Lê Hồng T là nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn H chung sống với nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân xã Tạ An Khương Đ, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau. Hôn nhân được xác lập trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức hỏi cưới theo phong tục tập quán và được gia đình hai bên chấp thuận. Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc, đến cuối năm 2012 thì giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị T là do anh H tham gia tệ nạn xã hội (đánh đề và cá độ bóng đá) mặc dù chị và gia đình có khuyên nhưng anh không thay đổi, dẫn đến vợ chồng cự cải thường xuyên. Mâu thuẫn giữa vợ chồng cha mẹ hai bên có tổ chức hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Anh, chị đã ly thân từ tháng 01 năm 2021. Do đó, chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Chị T xác định anh, chị có hai người con chung tên Trần Thiên P, sinh ngày 30/5/2011, Trần Thiên Ph, sinh ngày 19/4/2016, hiện con đang sống với chị. Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi các con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi các con.
- Về tài sản chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung và người khác nợ lại: Chị T khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại.
Đồng thời, do bận công việc cá nhân nên chị T xin không tham gia phiên tòa ngày 15/8/2023 và các phiên tòa khác nếu có.
Đối với anh Trần Văn H, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Trần Văn H đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa chị T, anh H là tranh chấp về ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Anh Trần Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa xét xử theo quy định nhưng anh H vẫn vắng mặt không có lý do, Chị Lê Hồng T có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh H theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Chị Lê Hồng T và anh Trần Văn H xác lập quan hệ vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán, có đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16/11/2010 tại Ủy ban nhân dân xã Tạ An Khương Đ, huyện Đầm D, tỉnh Cà Mau, có đủ điều kiện kết hôn theo luật định nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống anh, chị có nhiều mâu thuẫn. Xét thực tế cuộc sống anh, chị có mâu thuẫn là sự thật. Vì theo chị T anh, chị xảy ra mâu thuẫn thường xuyên, không quan tâm, chăm sóc, quý trọng nhau. Anh, chị có xảy ra mâu thuẫn nhiều năm, cự cải nhiều lần, ly thân nhiều năm. Trong khoảng thời gian này anh, chị không ai có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng và cũng không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Đối với anh H quá trình Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay đã mời anh rất nhiều lần nhưng anh không đến Tòa án, không gửi văn bản trình bày ý kiến. Do đó, Tòa án căn cứ vào những chứng cứ mà chị T nộp để giải quyết vụ án là phù hợp. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh H là phù hợp.
[4] Về con chung: Chị T xác định anh, chị có hai người con chung tên Trần Thiên P, sinh ngày 30/5/2011, Trần Thiên Ph, sinh ngày 19/4/2016, hiện con đang sống với chị. Khi ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi các con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi các con.
Xét thấy việc nuôi dạy con là quyền và nghĩa vụ của chị T, anh H. Giao con cho chị T hoặc anh H trực tiếp nuôi dạy cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con nhưng không phải giao con cho chị T hoặc anh H nuôi thì người không trực tiếp nuôi con bị tước đi các quyền chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cái. Nhưng việc anh, chị ly hôn đã phần nào ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của con nên cần phải hạn chế đến mức thấp nhất việc ảnh hưởng đời sống và bảo đảm được việc học hành, sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần của con. Bên cạnh đó, cháu Thiên P, cháu Thiên Ph cũng có ý kiến nguyện vọng sống cùng với mẹ nếu cha, mẹ cháu ly hôn. Để tránh sự xáo trộn tâm lý, cuộc sống của các cháu nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao các cháu Thiên P, cháu Thiên Ph cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung: Chị T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nợ chung và người khác nợ lại: Chị T khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê HồngT về việc xin ly hôn anh Trần Văn H.
- Về con chung: Giao các cháu Trần Thiên P, sinh ngày 30/5/2011, Trần Thiên Ph, sinh ngày 19/4/2016, hiện con đang sống với chị T cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Chị T khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại nên Hội đồng xét xử không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, chị T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 01 tháng 6 năm 2023, chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0003496 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu sung quỹ nhà nước.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Chị T, anh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thúy Dung |
Bản án số 191/2023/HNGĐ-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 191/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê HồngT về việc xin ly hôn anh Trần Văn H. 2. Về con chung: Giao các cháu Trần Thiên P, sinh ngày 30/5/2011, Trần Thiên Ph, sinh ngày 19/4/2016, hiện con đang sống với chị T cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. 4 Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 3. Về tài sản chung: Chị T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. 4. Về nợ chung: Chị T khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại nên Hội đồng xét xử không yêu cầu Tòa án giải quyết.
