Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 191/2023/DS-PT

Ngày 13-9-2023

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-------------------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Trâm Anh

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Diệu Hiền

Bà Trần Thị Chọn

- Thư ký phiên tòa: Bà Quan Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 110/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 7 năm 2023 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 09 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 186/2023/QĐPT-DS ngày 28 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị T1 - sinh năm 1975 (có mặt)

    Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

  2. Bị đơn: Bà Thị P - sinh năm 1931 (có mặt);

    Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Thị T2 (tên gọi khác P1) - sinh năm 1954 (vắng)
    2. Ông Danh H - sinh năm 1954 (chết);
    3. Cùng địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

    4. Bà Thị K - sinh năm 1969 (có mặt)
    5. Ông Danh R - sinh năm 1965 (có mặt)
    6. Bà Thị K1 - sinh năm 1967 (có mặt)
    7. Ông Danh L - sinh năm 1960 (có mặt)
    8. Cùng địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

  4. Người kế thừa quyền lợi và nghĩa của ông Danh H:
    1. Bà Thị T3 - sinh năm 1978 (có mặt)
    2. Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

    3. Bà Thị T4 - sinh năm 1980 (vắng)
    4. Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

    5. Ông Danh T5 - sinh năm 1985 (vắng)
    6. Bà Thị T6 - sinh năm 1987 (vắng)
    7. Bà Thị Bích K2 - sinh năm 1995 (vắng)
    8. Cùng địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Người kháng cáo: Bà Thị P

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/11/2018 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phan Thị T1 trình bày: Vào ngày 01/12/2014 vợ chồng bà Thị T2, ông Danh H có chuyển nhượng cho bà diện tích đất là 317,52m² (nhưng đo đạc thực tế là 292m²), loại đất thổ cư, thuộc thửa 40 (khu đo bao ấp H), tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang với giá là 52 chỉ vàng 24k, loại 9999. Hai bên có làm giấy tay mua bán và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì đất thuộc khu đo bao. Trong lúc bà T2 chuyển nhượng đất thì bà Thị P là mẹ của bà T2 biết và có chứng kiến việc chuyển nhượng đất này. Tuy nhiên, đến tháng 9/2016 thì bà P tranh chấp và lấn qua phần đất của bà đã chuyển nhượng của bà T2. Nay bà yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp, đo đạc thực tế 53,8m², thuộc thửa 40 (khu do bao ấp H, xã Đ), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang là của bà, buộc bà Thị P phải trả quyền sử dụng đất cho bà. Đối với yêu cầu phản tố của bà Thị P thì bà không đồng ý.

Tại biên bản lấy lời khai đề ngày 13/8/2020 và đơn yêu cầu phản tố đề ngày 21/5/2022 của bà Thị P trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp là của vợ chồng bà khai phá từ trước giải phóng. Sau đó, vợ chồng bà cho đất các con trong đó có bà T2. Việc cho đất bà T2 chỉ nói miệng không có làm giấy tờ, thời điểm cho cách nay trên 30 năm vì lúc cho đất thì ông Danh H còn sống nhưng nay ông H đã chết cách nay trên 30 năm.

Việc bà T2 bán đất cho bà T1 bà không biết nhưng sau này bà thấy bà T1 làm đất hết thì bà mới ra ngăn cản vì trên phần đất tranh chấp mà bà T2 bán cho bà T1 có chuồng heo của bà cất. Trước đây, bà T2 có từng cho bà vàng là đúng nhưng bà không biết vàng từ đâu bà T2 cho, và cũng không nghe bà T2 nói bán đất cho vàng bà. Nay, bà T1 khởi kiện yêu cầu bà trả lại phần đất tranh chấp có diện tích theo đo đạc thực tế là 53,8m² thì bà không đồng ý vì đất này là của bà và bà đã cất chuồng heo từ lâu. Đồng thời, bà yêu cầu công nhận diện tích đất nêu trên.

Bà Thị T2 trình bày: Vào ngày 01/12/2014 vợ chồng bà có chuyển nhượng cho bà T1 diện tích đất là 317,52m² (nhưng đo đạc thực tế là 292m²), loại đất thổ cư, thuộc thửa 40 (khu đo bao ấp H), tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang với giá 52 chỉ vàng 24k, loại 9999, hai bên có làm giấy tay mua bán. Khi chuyển nhượng đất cho bà T1 thì bà P biết và không có tranh chấp hay ngăn cản gì cả. Bà cũng có cho vàng bà P khi bán đất. Đến khoảng năm 2016 thì bà P mới ngăn cản và tranh chấp. Tôi ở trên đất này từ năm 1976 - 1977 đến năm 2014 thì mới chuyển nhượng cho bà T1. Nay bà thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của bà T1.

Ông Danh L1, Danh R, T, Thị K trình bày: các ông bà là con ruột của bà P. Nguồn gốc đất tranh chấp giữa bà P và bà T1 thì trước đây là của cha mẹ các ông bà khai phá. Đối với phần đất tranh chấp là cha mẹ ông bà không có cho bà T2. Lúc bà T2 bán đất cho bà T1 thì các anh em không biết. Nay giữa bà P và bà T1 tranh chấp các ông bà không có yêu cầu hay ý kiến gì mà để bà Thị P tự giải quyết với bà T1. Trên phần đất tranh chấp có 01 chuồng heo và 01 cây dừa của bà Thị K, nếu Tòa án công nhận đất cho bà T1 thì bà K đồng ý giao cho bà T1 sử dụng luôn mà không yêu cầu bồi thường.

Người kế thừa quyền lợi, nghĩa vụ của ông Danh H là bà Thị T3 trình bày: bà là con ruột của bà T2, còn bà P là bà ngoại bà, theo bà biết thì đất tranh chấp là của bà ngoại (bà P) chứ không phải của bà T2 vì bà thấy trên đất tranh chấp có chuồng heo của bà P từ lâu.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 09/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao đã quyết định:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phan Thị T1 đối với bị đơn là bà Thị P. Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/8/2020 là 53,8m², nằm trong một phần của thửa số 40 (khu đo bao ấp H), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang cho bà Phan Thị T1. Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật bà Phan Thị T1 có nghĩa vụ đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy CNQSD đất diện tích là 292 m² (trong đó có phần đất tranh chấp 53,8m²) theo quy định của pháp luật về đất đai; Thuế, phí và lệ phí do bà T1 nộp.
  2. Đồng thời, công nhận cho bà Phan Thị T1 được sử dụng 01 cây dừa và một chuồng heo trên đất.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, bà Thị P kháng cáo với nội dung: Sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng công nhận cho bà quyền sử dụng diện tích đất 53,8 m² đất thuộc một phần thửa 40, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa phúc thẩm: nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm:

Về việc chấp hành pháp luật: Từ khi thụ lý cho đến trước khi tuyên án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: phần đất tranh chấp bà Thị T2 đã sử dụng ổn định trên 30 năm, năm 2014 đã chuyển nhượng cho bà Phan Thị T1, bà T1 đã nhận đất sử dụng ổn định và đã trả đủ vàng. Bản án sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị T1 và bà Thị T2 là có căn cứ, bà Thị P có đơn phản tố đề nghị công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp cho bà là không có cơ sở, tuy nhiên phần quyết định của bản án sơ thẩm không tuyên bác yêu cầu phản tố của bà Thị P là có thiếu sót, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm trong phần quyết định tuyên bác yêu cầu phản tố của bà Thị P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: bà Thị T2, T, D, Thị T6, Thị Bích K2 có đơn xin vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử vắng mặt.
  2. Về Nguồn gốc đất tranh chấp: Phần đất tranh chấp có diện tích theo biên bản xem xét thẩm định chỗ ngày 05/8/2020 là 53,8m² (trong tổng diện tích 292m²), nằm trong một phần của thửa số 40 (khu đo bao ấp H), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang có nguồn gốc của ông Danh L2 và bà Thị P khai phá, năm 1976 - 1977 thì ông L2, bà P cho lại bà T2 sử dụng. Phần đất này đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Vào ngày 01/12/2014 bà T2, ông H chuyển nhượng giấy tay diện tích đất 292 m² cho bà Phan Thị T1, trong đó có phần đất tranh chấp 53,8m². Sau khi chuyển nhượng, bà T1 canh tác sử dụng ổn định, đến năm 2016 thì bà P vào ngăn cản không cho bà T1 canh tác, từ đó xảy ra tranh chấp.

  3. Về nội dung kháng cáo: Phần diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích đất 292 m² tọa lạc ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang do bà Thị T2 quản lý sử dụng ổn định liên tục từ năm 1977 đến nay đã trên 30 năm. Năm 2014, bà T2, ông H chuyển nhượng cho bà T1, bà T2 cũng xác nhận việc chuyển nhượng bao gồm cả phần đất tranh chấp, bà T1 đã nhận đất và sử dụng ổn định. Bà P cho rằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà P và bà T1 bà không biết là không đúng, bởi lẽ phần đất bà T2 chuyển nhượng cho bà T1 là ở phía trước nhà bà P đang ở, bà T1 đã vào và sử dụng ổn định từ năm 2014 đến năm 2016 bà P mới ngăn cản. Mặt khác, bà T2 trình bày sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà T1, bà T2 đã cho lại vàng bà P, bà P xác nhận có nhận vàng nhưng cho rằng không biết là vàng ở đâu để cho. Từ đó cho thấy, bà P biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T2 và bà T1. Cấp sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T2, ông H với bà T1 là có cơ sở.

    Bà P có đơn phản tố yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp, cấp sơ thẩm có nhận định yêu cầu phản tố không có cơ sở xem xét nhưng trong phần quyết định của bản án không tuyên bác yêu cầu phản tố của bà P là thiếu sót, cần rút kinh nghiệm.

    Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, không chấp nhận kháng cáo của bà Thị P, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Về lệ phí đo đạc và phí thẩm định giá là: 4.290.000 đồng, trong đó phí đo đạc là 1.100.000 đồng theo hóa đơn giá trị gia tăng số 0000935 ngày 12/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G và phí thẩm định giá là 3.190.000 đồng theo hóa đơn số 0000579 ngày 27/4/2022 của Công ty cổ phần T8 và tư vấn đầu tư Miền T. Bà Phan Thị T1 tự nguyện nộp hết và đã nộp xong.

  1. Về án phí: Bà Thị P là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn tòan bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

    Bà Phan Thị T1 khởi kiện được chấp nhận nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 11, Điều 166, Điều 175 và Điều 688 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 12 Luật đất đai sửa đổi bổ, sung năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Thị P. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 09/5/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phan Thị T1 đối với bị đơn là bà Thị P về việc kiện đòi quyền sử dụng đất bị lấn chiếm nên cần giữ nguyên hiện trạng ranh giới theo Tờ trích đo địa chính số: TĐ 49-2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai huyện G để làm ranh giới giữa các thửa đất.

    Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/8/2020 là 53,8m², nằm trong một phần của thửa số 40 (khu đo bao ấp H), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang cho bà Phan Thị T1. Đất có vị trí và sơ đồ kèm theo như sau:

    • Cạnh 1-2 giáp đất ông Lê Văn T7 có số đo là 11,5 mét.
    • Cạnh 2-3 giáp mương thủy lợi công cộng có số đo là 4,2 mét.
    • Cạnh 3-4 giáp phần đất còn lại thửa 40 có số đo là 11,5 mét.
    • Cạnh 4-1 giáp đường đal dân sinh có số đo là 5,2 mét.

    Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật bà Phan Thị T1 có nghĩa vụ đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; Thuế, phí và lệ phí do bà T1 nộp.

    Đồng thời, công nhận cho bà Phan Thị T1 được sử dụng 01 cây dừa và một chuồng heo trên đất.

  2. Bác yêu cầu phản tố của bà Thị P về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất 537,8 m² nằm trong một phần của thửa số 40 (khu đo bao ấp H), tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang cho bà Thị P.
  3. Về lệ phí đo đạc và phí thẩm định giá là: Bà Phan Thị T1 tự nguyện chịu chi phí đo đạc và thẩm định giá là 4.290.000 đồng (đã thực hiện xong).
  4. Về án phí:
    • - Bà Thị P được miễn tòan bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.
    • - Bà Phan Thị T1 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 000966 ngày 03/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Gò Quao;
  • - Chi cục THADS huyện Gò Quao;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Trâm Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2023/DS-PT ngày 13/09/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 191/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà T khởi kiện bà P về phần đất bị lấn chiếm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger