Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 191/2022/HNGĐ-ST

Ngày: 16-11-2022

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Tuyết Trinh

Bà Lê Thị Minh Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2022/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2022/QĐ-ST ngày 12/10/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 120/2022/QĐST-HNGĐ ngày 31/10/2022 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị V, sinh năm 1994 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Phương H, sinh năm 1991(vắng mặt)
  4. Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố I, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang (Hiện đang lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ).

    Địa chỉ cuối cùng của anh H tại Việt Nam: Tổ dân phố I, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Trịnh Thị V trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh Nguyễn Phương H được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương. Chị và anh H đăng ký kết hôn ngày 12/4/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang nơi anh H đăng ký hộ khẩu thường trú. Sau khi kết hôn chị về nhà anh H làm dâu ngay, vợ chồng chung sống hòa thuận. Tháng 4/2016 chị và anh H phát sinh mâu thuẫn nên chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn chị và anh H nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo hai vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị và anh H đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Khoảng tháng 01/2017 anh H đi lao động tại Đài Loan, tuy nhiên việc anh H đi lao động không bàn bạc gì với chị. Kể từ khi anh H đi lao động tại Đài Loan chị và anh H không ai còn gọi điện hỏi thăm sức khỏe của nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Nguyễn Phương H.

Về con chung: Chị và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Trịnh Hà P, sinh ngày 22/4/2013 hiện nay cháu đang sinh sống cùng chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ: Không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Phương H là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Tại biên bản làm việc ngày 17/10/2022 và 26/10/2022, bà Lê Hồng L là mẹ đẻ anh Nguyễn Phương H cung cấp anh H hiện nay đang đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Về hôn nhân của anh H, chị V đăng ký kết hôn ngày 12/4/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị V về nhà bà làm dâu và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Tháng 3/2019 anh H đi lao động tại Đài Loan. Sau khi anh H đi lao động một thời gian thì anh H nói vợ chồng có mâu thuẫn. Mâu thuẫn như thế nào thì anh H không nói rõ nên bà không biết. Bà có khuyên bảo nhưng anh, chị không thống nhất được với nhau. Anh H, chị V có 01 con chung là cháu Nguyễn Trịnh Hà P, sinh ngày 22/4/2013. Tài sản chung, công nợ của anh, chị không có. Anh H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh H không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh H tại Đài Loan.

Cháu Nguyễn Trịnh Hà P có đơn trình bày: Cháu hiện đang ở cùng mẹ, được mẹ chăm sóc nuôi dưỡng tốt, vì vậy nếu bố mẹ cháu ly hôn cháu xin ở cùng với mẹ.

Tại phiên tòa, chị Trịnh Thị V vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Anh Nguyễn Phương H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị Trịnh Thị V; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của anh Nguyễn Phương H và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Đối với nguyên đơn chị V có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn anh H không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh H. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt anh H là đúng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thị V.

Xử cho chị Trịnh Thị V được ly hôn anh Nguyễn Phương H.

Về con chung: Do anh H hiện nay đang đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Nguyễn Trịnh Hà P, sinh ngày 22/4/2013 cho chị Trịnh Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản, công nợ: Do chị V không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Chị Trịnh Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Trịnh Thị V khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Phương H và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Theo Công văn trả lời số 21519/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 17/10/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, anh H xuất cảnh gần đây nhất là ngày 01/11/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, anh H được xác định là đang ở nước ngoài. Ngoài ra, lời khai của nguyên đơn chị V, bà Lê Hồng L là mẹ đẻ anh H xác định được nơi cư trú cuối cùng của anh H ở Việt Nam trước khi xuất cảnh lần gần nhất là: tổ dân phố I, thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Anh H, chị V đều có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung”. Do vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt đương sự: Chị Trịnh Thị V là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Trịnh Thị V.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Phương H vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh H là bà Lê Hồng L để giao thông báo thụ lý vụ án và đề nghị bà L thông báo cho anh H biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa chị Trịnh Thị V và anh Nguyễn Phương H. Bà Loan cho biết anh H vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh H không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh H tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị V và anh Nguyễn Phương H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 12/4/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn Anh Nguyễn Phương H.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trịnh Thị V với anh Nguyễn Phương H. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị V và anh H chung sống với nhau hòa thuận. Tuy nhiên, đến tháng 4/2016 chị V, anh H phát sinh mâu thuẫn nên chị V chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Sau đó một thời gian thì anh H đi lao động tại Đài Loan. Kể từ khi anh H đi lao động tại Đài Loan chị V và anh H không còn liện lạc gì với nhau. Chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn nên làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị V và anh H được ly hôn. Bà Loan là mẹ đẻ anh H cung cấp anh H là con trai bà có xác định vợ chồng chị V, anh H có mâu thuẫn. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu câu xin ly hôn của chị V, xử cho chị V và anh H được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[4]. Về nuôi con chung: Chị V và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Trịnh Hà P, sinh ngày 22/4/2013. Hiện nay con chung đang sinh sống cùng chị V và do chị V chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn chị V có nguyện vọng nuôi con chung.

Xét yêu cầu nuôi con chung của chị V: Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh H đang lao động tại nước ngoài không thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Anh H từ khi đi nước ngoài thì cháu P vẫn do chị V là người trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, được đi học đầy đủ. Ngoài ra, cháu P trên 07 tuổi trình bày có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị V đối với yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau khi ly hôn. Do vậy, căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Giao chị V là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Trịnh Hà P đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với điều kiện thực tế cũng như quyền và lợi ích về mọi mặt của con chung và nguyện vọng của con chung. Sau khi ly hôn Anh Nguyễn Phương H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trường hợp anh Nguyễn Phương H về Việt Nam có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[5]. Về tài sản, công nợ: Chị V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: Chị Trịnh Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Trịnh Thị V được ly hôn anh Nguyễn Phương H.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Trịnh Hà P, sinh ngày 22/4/2013 cho chị Trịnh Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh Nguyễn Phương H không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Phương H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

  4. Về án phí: Chị Trịnh Thị V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000613 ngày 04/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trịnh Thị V đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Trịnh Thị V vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  6. Anh Nguyễn Phương H hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND thị trấn B, huyện V, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 191/2022/HNGĐ-ST ngày 16/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 191/2022/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2022
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh châp nuôi con chung giữa chị V và anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger