Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 190/2024/HSST

Ngày: 29/7/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Thái Văn Sơn.
  2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Anh Thương – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 176/2024/HSST, ngày 24 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2024/QĐST-HS ngày 15/7/2024, đối với bị cáo:

Bị cáo: Nguyễn Văn T (Tên gọi khác: C)

Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/7/1997. Tại: Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi thường trú: tổ B, ấp G, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: không.

Con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1976 và bà Trần Thị M, sinh năm 1978.

Anh, chị, em ruột: không có.

Vợ, con: Không

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, TP . xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 theo bản án số 173/2016/HSST ngày 14/7/2016. Chấp hành án tại Trại giam L thuộc Tổng cục V Bộ C1, đến ngày 08/02/2018, chấp hành xong trở về địa phương theo Giấy chứng nhận số 268/GCN ngày 08/02/2018 của Giám thị Trại giam L.

- Năm 2020, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, TP . ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy P1 theo Quyết định số: 33/QĐ-TA ngày 17/01/2020. Nguyễn Văn T chưa chấp hành Quyết định nêu trên thì vào ngày 13/3/2020, T bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, nhằm mục đích sử dụng. Ngày 20/7/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, TP . xử phạt 02 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 theo bản án số 124/HSST ngày 20/7/2020. Chấp hành án tại Trại giam L thuộc C10

Bộ C1, đến ngày 13/01/2022, chấp hành xong trở về địa phương theo Giấy chứng nhận số 16/GCN ngày 13/01/2022 của Giám thị Trại giam L.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 14/01/2024 đến nay.

Bị cáo hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi lần lượt chấp hành xong hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và hình phạt 02 (hai) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào các năm 2016, 2020 và được trở về địa phương sinh sống. Do không có việc làm ổn định, để có tiền tiêu xài cá nhân và có chất ma túy sử dụng hàng ngày, Nguyễn Văn T tiếp tục nảy sinh ý định đi mua trái phép chất ma túy mang về nhà phân chia rồi bán cho người khác để thu lợi. Khi người nào có nhu cầu mua chất ma túy thì liên lạc vào số điện thoại 0373.548.xxx hoặc đến nhà gặp trực tiếp T để thỏa thuận mua bán và giao dịch ma túy.

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13/01/2024, Nguyễn Văn T đang ở tại nhà của T tại địa chỉ nhà số B đường G, tổ B, ấp G, xã A, huyện C, TP . thì có Bùi Thị Kim P đi xe ôm đến nhà của T, hỏi mua chất ma túy đá với giá 500.000 đồng. T đồng ý bán, đồng thời bảo P đưa tiền trước và đi ra ngoài đợi T liên lạc lại. P đồng ý đưa số tiền 500.000 đồng cho T rồi đi ra ngoài đợi. Sau khi nhận số tiền 500.000 đồng của P, T sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của T gọi điện thoại vào số thuê bao di động 0344464552 hỏi mua của một người nam thanh niên tên H (không rõ lai lịch) một gói ma túy đá với số tiền 500.000 đồng, H đồng ý bán và hẹn giao ma túy trước nhà T. Thỏa thuận xong, T cất giấu số tiền 500.000 đồng vào trong một bao thuốc lá nhãn hiệu Hòa Bình rồi mang ra để ở lề đường cách nhà của T khoảng 10 mét. Khoảng 20 phút sau, H gọi điện thoại cho T nói đã lấy được số tiền 500.000 đồng và đã để lại một bao thuốc lá nhãn hiệu Jet bên trong có chứa ma túy. T đi bộ ra trước nhà lấy gói thuốc lá hiệu Jet lên mở ra xem thì nhìn thấy bên trong có một gói ma túy. T cầm lấy gói ma túy rồi vứt bỏ bao thuốc lá hiệu Jet sau đó mang gói ma túy đi vào trong nhà phân chia thành 02 (hai) gói nylon nhỏ. T lấy 01 (một) gói nylon bên trong có chứa ma túy đá cho vào một bao thuốc lá hiệu Hòa Bình rồi mang ra để ở lề đường phía trước nhà của T và cất giấu 01 (một) gói nylon bên trong có chứa ma túy đá ở dưới mái tôn trong nhà vệ sinh của T, mục đích để sử dụng và bán cho người khác để thu lợi. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, T sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của T gọi điện thoại vào số thuê bao di động 0907055738 của P bảo P đến trước nhà T lấy một gói ma túy trong bao thuốc lá hiệu Hòa Bình, P đồng ý. Sau khi lấy được gói ma túy, P mang gói ma túy đi về nhà của P tại ấp A, xã A, huyện C, TP . rồi sử dụng một mình cho đến hết. Đến khoảng 12 giờ 00 phút ngày 14/01/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện C với Công an xã A, huyện C, TP . tiến hành kiểm tra hành chính căn nhà của Nguyễn Văn T. Khi kiểm tra đến nhà vệ sinh thì phát hiện 01 (một) gói nylon bên trong có chứa tinh thể không màu là chất ma túy dưới mái tôn trong nhà vệ sinh, nên lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy lúc 12 giờ 10 phút cùng ngày (bút lục: 01-03; 21-23; 24-29; 30-35; 54-55; 59-60; 105-108).

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật, tài liệu của Nguyễn Văn T tại địa chỉ nhà số B đường số G, tổ B, ấp G, xã A, huyện C, TP . phát hiện, thu giữ: 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 (một) cái kéo, 01 (một) quẹt ga, 01 (một) khẩu súng, 02 (hai) viên đạn.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Văn TBùi Thị Kim P đều dương tính (+) với chất ma túy tổng hợp.

Kết luận giám định số 1309/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T và hình dấu Công an xã A, huyện C (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1773g (không phẩy một bảy bảy ba gam), loại Methamphetamine.

Kết luận giám định số 2814/KL-KTHS ngày 28/02/2024 của Phòng K1 Công an T kết luận:

  • 01 khẩu súng ngắn ổ quây, không có số súng thu giữ của bị can Nguyễn Văn T là loại súng chế lại để bắn đạn cỡ 5,6mm, súng còn sử dụng được, bắn được đạn nổ, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng.
  • 02 viên đạn bằng kim loại, cùng cỡ 5,6 x 15,6mm là đạn thể thao, thuộc danh mục vũ khí thể thao và sử dụng được cho khẩu súng trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu giữ của Nguyễn Văn T:

  • 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 459/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên.
  • 01 (Một) khẩu súng ngắn và 02 (hai) viên đạn, là của T mua trên mạng xã hội Facebook với giá 2.000.000 đồng cất giấu nhằm mục đích để tự vệ.
  • 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei 1: 350804634233457, số Imei 2: 350804634233465. Đây là điện thoại của T, dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy.
  • 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 (một) cái kéo, 01 (một) quẹt ga. Đây là dụng cụ của T dùng để phân chia và sử dụng chất ma túy.

- Thu giữ của Bùi Thị Kim P: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, số imei 1: 869604033086058, số imei: 869604033086041.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), nộp 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 168/CT-VKS ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ; Cụ thể:

Vào lúc 12 giờ 10 phút ngày 14/01/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy Công an huyện C Công an xã A, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành kiểm tra hành chính nhà số B đường G, tổ B, ấp G, xã A, huyện C, TP . do Nguyễn Văn T làm chủ thì phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép 0,1773 gam là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, mục đích để bán cho người khác.Trước đó, vào ngày 13/01/2024, Nguyễn Văn T đã bán cho Bùi Thị Kim P một gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân xấu. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 09 tháng tù đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T tên H, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo là nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), nộp 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) khẩu súng và 02 (hai) viên đạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tách ra khỏi vụ án bàn giao cho Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố H thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số: 1696/QĐ ngày 03/5/2024 đối với chiếc điện thoại di động hiệu OPPO, số imei 1: 869604033086058, số imei: 869604033086041 của Bùi Thị Kim P bằng hình thức tách khỏi vụ án, giao lại cho Công an xã A, huyện C, TP . xử lý theo thẩm quyền (bút lục số 68).

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 459/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 (một) cái kéo, 01 (một) quẹt ga.

Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei 1: 350804634233457, số Imei 2: 350804634233465, đã qua sử dụng.

Bị cáo Nguyễn Văn T không tranh luận, không tự bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Nhà bị cáo còn có mẹ già, do đó xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình, chăm sóc mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ có tại hồ sơ, kết luận giám định số 1309/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: Tinh thể không màu trong 01 gói được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T và hình dấu Công an xã A, huyện C (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1773g (không phẩy một bảy bảy ba gam), loại Methamphetamine. Bị cáo Nguyễn Văn T tàng trữ trái phép 0,1773 gam, loại Methamphetamine, nhằm mục đích bán cho người khác và đã bán ma túy cho bà Bùi Thị Kim P với số tiền là 500.000 đồng. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân

huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người thành niên, nhận thức rõ hành vi của mình là sai, bị pháp luật cấm nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ràng việc mua bán trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xem xét mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có một hình phạt tương xứng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: xấu. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét lượng hình cho bị cáo là phù hợp.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo T là nộp lại số tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), nộp 01 lần, ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, lẽ ra phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, mới phạm tội lần đầu thì bị bắt nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là có cơ sở.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T tên H, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 459/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 (một) cái kéo, 01 (một) quẹt ga. Xét đây là vật cấm mua bán, tàng trữ, vận chuyển; Vật không có giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei 1: 350804634233457, số Imei 2: 350804634233465, thu giữ của bị cáo T. Xét thấy đây là phương tiện bị cáo dùng để mua bán ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên bản cáo trạng số 168/CT-VKS ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử lý vật chứng như nhận định nêu trên, xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thượng vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/01/2024.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); nộp 01 lần, ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể không màu được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 459/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên; 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 01 (một) cái kéo, 01 (một) quẹt ga.
  • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, số Imei 1: 350804634233457, số Imei 2: 350804634233465, đã qua sử dụng.

Các vật chứng, tài sản nêu trên được liệt kê tại phiếu nhập kho vật chứng số: 144/PNK ngày 28/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bút lục số 67)

- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016:

Án phí HS-ST: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Công an huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Phòng PC 27;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ. (16b)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Hùng Vương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Hội thẩm nhân dân

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HSST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 190/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger