|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 190/2024/HS-ST Ngày: 27/8/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùa A Phềnh.
Ông Lò Văn Chương.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 190/2024/TLST- HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với Bị cáo:
- Họ và tên: Hoàng Văn T; sinh năm: 1979, tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn T1 (đã chết); Con bà: Nông Thị K; sinh năm 1954; Vợ là Nguyễn Thị N; sinh năm 1979 (đã ly hôn năm 2018). Bị cáo có 01 người con sinh năm 2008. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/10/1999, Bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, phạt tiền 20.000.000 đồng và phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng. Ngày 23/02/2000, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm đối với Bị cáo và tuyên giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm. Ngày 31/8/2004 Bị cáo chấp hành xong hình phạt và trở về địa phương sinh sống, Bị cáo đã thi hành xong đối với khoản tiền án phí và được miễn thi hành đối với khoản phạt sung ngân sách Nhà nước 20.000.000 đồng.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/6/2024, sau đó bị tạm giam cho đến ngày xét xử (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 04/6/2024, Hoàng Văn T một mình đì bộ từ nhà tại Thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi Bị cáo mang theo 100.000 đồng, Bị cáo đi bộ đến đầu thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì gặp một người đàn ông dân tộc Kinh, khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ) đang đứng ngoài đường. Bị cáo hỏi: “Có Heroine bán không?”, người đàn ông trả lời: “Có, mua bao nhiêu tiền?”. T nói: “Bán cho 100.000 đồng" đồng thời lấy ra 100.000 đồng đưa cho người đàn ông, người đàn ông đó cầm tiền, rồi đưa lại cho Bị cáo 02 Heroine đều được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, miệng hai gói đều được hơ lửa hàn kín, bên trong hai gói là Heroine. Bị cáo cầm 02 gói Heroine đó bằng tay phải rồi đi bộ về. Bị cáo đi bộ về được một đoạn đường thì bị lực lượng Công an xã T và Đồn biên phòng T2 kiểm tra, thu giữ tại tay phải Bị cáo đang cầm 02 gói Heroine đều được gói bên ngoài bằng nilon màu hồng, miệng 02 gói đều được hơ lửa hàn kín, bên trong có Heroine. Tổ công tác đã mời người chứng kiến đến, chứng kiến vụ việc rồi đưa Bị cáo cùng vật chứng về Trụ sở Công an xã T tiến hành lập biên bản quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Sau đó Bị cáo bị áp giải về Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để tiếp tục điều tra làm rõ.
Ngày 04/6/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã tiến hành cân xác định khối lượng số vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T như sau: Số cục bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng là: 0,11 gam gửi toàn bộ giám định.
Tại bản kết luận giám định số: 942/KL-KTHS ngày 10/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng được gửi đi từ vật chứng thu giữ của Hoàng Văn T giám định là chất ma túy: loại Heroine. Vật chứng hoàn lại sau giám định là 0,09 gam.
Tại bản cáo trạng số: 132/CT-VKSHĐB ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo: Từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 0,09 gam Heroine là vật chứng hoàn lại sau giám định và 02 mảnh nilon màu hồng là vật không có giá trị sử dụng.
2
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố.
Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 07 giờ ngày 04/6/2024 tại khu vực Thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Hoàng Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,11 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c)....Heroine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát truy tố Bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều luật đã viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không bị oan sai.
[2] Về tính chất của vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận
3
xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, Bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[3] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của Bị cáo:
- - Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại Điện Biên, đi học đến lớp 9/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 2006 bị cáo kết hôn với chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1979, đến năm 2018 ly hôn. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2008. Bị cáo sử dụng ma túy từ năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không.
- Ngày 22/10/1999, Bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 07 năm tù giam về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, phạt tiền 20.000.000 đồng và phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 50.000 đồng. Ngày 23/02/2000, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm đối với Bị cáo và tuyên giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm. Ngày 31/8/2004 Bị cáo chấp hành xong hình phạt và trở về địa phương sinh sống, Bị cáo đã thi hành xong đối với khoản tiền án phí và được miễn thi hành đối với khoản phạt sung ngân sách Nhà nước 20.000.000 đồng. Bị cáo có nhân thân xấu.
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Việc đề nghị áp dụng hình phạt của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249/BLHS, ngoài hình phạt chính “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xong xét hoàn cảnh gia đình Bị cáo khó khăn, Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án gồm:
0,09 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ và 02 mảnh nilon màu hồng là vật không
4
có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[6] Các vấn đề khác:
Trong quá trình điều tra Bị cáo đã khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do Bị cáo mua của một người đàn ông dân tộc Kinh khoảng 50 tuổi (không biết tên, địa chỉ ở đâu). Do Bị cáo không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không có đủ cơ sở, tài liệu làm căn cứ để điều tra xác minh làm rõ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý trong vụ án này.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[8] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
[9] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng vụ án:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt Bị cáo: 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (04/6/2024).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
Áp dụng Điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
* Tịch thu tiêu hủy: 0,09 gam Heroine là vật chứng còn lại sau giám định và 02 mảnh nilon màu hồng dùng để gói ma túy đã hết giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát
5
điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136/BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc Bị cáo chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA Trần Thị Tố Loan |
6
Bản án số 190/2024/HS-ST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (illegal storage of narcotics)
- Số bản án: 190/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Illegal storage of narcotics)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt Bị cáo: 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (04/6/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo.
