TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 190/2024/DS-PT Ngày: 25/4/2024 V/v “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Tuấn
Ông Trần Tuấn Vũ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuỷ Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 12/2024/TLPT-DS, ngày 05 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2023/DS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023, của Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 138/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số B, tổ A, ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị Kim H: Bà Dương Mỹ H1, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số A, T, khu phố C, phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản uỷ quyền ngày 05/6/2022). Có mặt.
2. Bị đơn:
- - Bà Trần Thị N, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ B, ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Tạm trú: Số G, tổ F, khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Trần T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số G, tổ F, khu phố H, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ B, ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt.
3. Người làm chứng:
- - Ông Nguyễn Thế T2, sinh năm 1965. Địa chỉ: I, Khu phố F, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- - Ông Nguyễn Thế B, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- - Bà Nguyễn Thị Mỹ H2, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- - Bà Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 1960. Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- - Ông Nguyễn Thế K, sinh năm 1979. Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- - Ông Võ Văn B1, sinh năm 1964. Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- - Ông Lê Thành T3, sinh năm 1966. Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- - Ông Nguyễn Văn É, sinh năm 1971. Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- - Ông Dương Văn T4, sinh năm 1954. Địa chỉ: ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
(Người làm chứng Tòa án không triệu tập)
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim H là nguyên đơn .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/8/2022 và tại biên bản lấy lời khai cũng như trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim H và người đại diện theo uỷ quyền của bà H là bà Dương Mỹ H1 trình bày:
Cha của bà Nguyễn Thị Kim H là cụ Nguyễn Văn T5 (chết ngày 01/02/1996) và mẹ là cụ Trần Thị B2 (chết ngày 01/7/2017) có tất cả 09 người con gồm: Ông Nguyễn Thế T6 (chết năm 2008), Nguyễn Thế T7 (chết năm 2016), ông Nguyễn Thế N1 (chết năm 2003), ông Nguyễn Thế T2, ông Nguyễn Thế B, bà Nguyễn Thị Mỹ H2, bà Nguyễn Thị Kim O, bà Nguyễn Thị Kim H, ông Nguyễn Thế K. Ngoài ra, cụ T5, cụ B2 không có con riêng, con nuôi nào khác. Khi còn sống, cụ T5, cụ B2 được thừa hưởng đất do ông bà để lại tại ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Quá trình sử dụng thì cụ B2, cụ T5 thống nhất để cho 03 người con trai là Nguyễn Thế T7, Nguyễn Thế N1, Nguyễn Thế B đại diện đứng tên một phần diện tích đất tại ấp R, xã T và họ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Đến năm 1996, cụ T5, cụ Bùi họp gia đình có đầy đủ 09 người con để chia lại đất mà ông T7, ông N1 và ông B đã đại diện đứng tên. Cho con trai diện tích 0,6 ha, con gái 0,4 ha, tất cả đều đồng ý, diện tích đất mỗi người được chia cụ thể như sau:
- Bà Nguyễn Thị Kim H được nhận diện tích 0,4 ha do Nguyễn Thế T7 đứng tên, phía ngoài giáp đường đất, phía trong có đấp bờ và trụ ranh đất giáp thửa đất của anh Nguyễn Thế T7. Đất có chiều dài 120m x rộng 34m = 4.080m².
- Ông Nguyễn Thế T7 được chia diện tích 0,6 ha giáp phía Tây đất của bà Nguyễn Thị Kim H.
- Bà Nguyễn Thị Kim O được chia diện tích 0,4 ha giáp ranh đất với bà Nguyễn Thị Mỹ H2.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H2 được chia diện tích 0,4 ha giáp ranh đất với Nguyễn Thị Kim O và Nguyễn Thế T6.
- Ông Nguyễn Thế T6 được chia diện tích 0,3 ha giáp ranh đất với Nguyễn Thị Mỹ H2 và Nguyễn Thế N1.
- Ông Nguyễn Thế N1 được chia diện tích 0,6 ha giáp ranh đất của Nguyễn Thế T6 và Nguyễn Thế T2.
- Ông Nguyễn Thế T2 được chia diện tích 0,6 ha giáp ranh đất của Nguyễn Thế N1 và Nguyễn Thế B.
- Ông Nguyễn Thế B được chia diện tích 0,6 ha giáp ranh đất Nguyễn Thế T2 và ranh của người khác.
- Ông Nguyễn Thế K được chia diện tích 01 ha giáp ranh đất với các thửa đất của người khác.
Mặc dù việc chia lại đất này cụ T5, cụ B2 không lập văn bản mà chỉ nói bằng lời nói nhưng các con đều thống nhất và căn cứ thực hiện. Sau đó Nguyễn Thế N1 đã tách thửa chia cho Nguyễn Thị Mỹ H2 và Nguyễn Thế T6 xong. Nguyễn Thế B đã tách thửa chia cho Nguyễn Thế T2 xong.
Còn ông T7 do bị bệnh và GCNQSDĐ đang thế chấp cho ngân hàng nên chưa tách thửa sang tên cho bà H nhưng đã giao diện tích đất 0,4 ha cho bà H quản lý, sử dụng từ năm 1996. Sau khi nhận đất, phần ai được chia đều sử dụng đúng vị trí, không ai thắc mắc khiếu nại gì về việc cha mẹ chia đất kể từ đó cho đến nay là gần 30 năm.
Trên diện tích đất 0,4 ha mà bà H được chia thì bà H đã đóng thuế cho Nhà nước từ năm 1996 đến khoảng năm 2000. Bà H sản xuất công khai, liên tục, ổn định và có đào một cái ao để nuôi cá. Trên dọc theo đường bờ ao bà Hoàng t bạch đàn, cách vài năm thu hoạch một lần. Bà H thu hoạch được 02 lần, mỗi lần cách nhau 05 năm đến 06 năm. Đến năm 2016, ông T7 chết thì bà H vẫn quản lý, sử dụng đất này. Đến năm 2020, bà H đến Ủy ban nhân dân xã T để đăng ký cấp GCNQSDĐ thì được biết phần đất này đã cấp giấy cho bà Trần Thị N (là vợ ông T7) nên bà H gặp bà N nói việc bà N được cấp luôn phần diện tích cụ T5, cụ Bùi c cho bà H thì bà N
và con là anh Nguyễn Trần T đồng ý điều chỉnh đổi lại GCNQSDĐ đúng với vị trí đất đã chia cho bà H. Sau đó, anh Trần T lập bảng kê tính chi phí hoàn tất thủ tục là 11.983.000 đồng nhưng làm tròn thành 12.000.000 đồng và bà H đã giao cho anh Trần T số tiền 9.000.000 đồng, bản gốc bảng kê tính phí thì anh T giữ, bà H có dùng điện thoại chụp lại bảng kê tính phí này. Tuy nhiên, sau đó bà N không làm thủ tục tách giấy sang tên cho bà H mà làm thủ tục tặng đất cho con là anh Nguyễn Trần T và anh Nguyễn Minh T1. Đến năm 2022, anh Trần T và anh Minh T1 là con của ông T7, bà N đem hai chiếc máy cày ra để cày đất của bà H và họ cho rằng họ đã được cấp GCNQSDĐ nên họ trồng cây tràm vàng trên đất. Từ đó xảy ra tranh chấp và đã được UBND xã T, huyện B không thành nên bà H khởi kiện đến Toà án.
Việc bà N, anh Trần T, anh Minh T1 không thực hiện việc tách giấy sang tên quyền sử dụng đất của bà H đã được chia là trái với nội dung cuộc họp năm 1996, gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà H. Tại đơn khởi kiện, bà H yêu cầu bà N, anh Trần T, anh Minh T1 trả lại diện tích 120m x 34m = 4.080m² nhưng qua kết quả đo đạc thực tế thì diện tích là 5.173,5m². Do đó, bà H yêu cầu căn cứ các Điều 11, 123, 185, 236 của Bộ luật Dân sự buộc bà N, anh Trần T, anh Minh T1 trả lại diện tích theo đo đạc thực tế là 5.173,5m², có tứ cận phía Đông giáp đường đất; phía Tây giáp thửa 231, 256, 417 và phần thửa còn lại của thửa 421; phía Nam giáp mương nước; phía Bắc giáp đường đất. Đồng thời yêu cầu bà N, anh Trần T, anh Minh T1 di dời tài sản trên đất và chấm dứt hành vi ngăn cản bà H được quyền sử dụng diện tích đất này. Ngoài ra, tại phiên toà, bà H bổ sung yêu cầu khởi kiện buộc bà N, anh Trần T, anh Minh T1 liên đới trả lại số tiền đã nhận 9.000.000 đồng để làm thủ tục tách giấy sang tên và bồi thường thiệt hại 16.000.000 đồng do bà N, anh Trần T, anh Minh T1 gàn cản việt bà H sử dụng đất từ tháng 3/2022 đến nay.
Bị đơn - Bà Trần Thị N và anh Nguyễn Minh T1: Quá trình giải quyết, Toà án đã thực hiện tống đạt văn bản hợp lệ nhưng bà N, anh Minh T1 không có văn bản
thể hiện ý kiến trong vụ án và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết nhưng không có lý do.
Bị đơn – Anh Nguyễn Trần T trình bày: Quá trình giải quyết anh Trần T không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của bà H nhưng có “Đơn xin hoãn phiên toà” ngày 15/9/2023 và “Đơn yêu cầu giải quyết” ngày 15/9/2023 với nội dung: Cho rằng, tài liệu do bà Hoàng cung c1 là Văn bản thoả thuận phân chia di sản thừa kế ngày 19/9/2021 được Văn phòng C3 chứng nhận và Tờ trình quan hệ nhân thân ngày 23/02/2023 của UBND xã T có nhiều sai phạm, mâu thuẫn chưa được làm rõ và đề nghị đưa Nguyễn Thị Kim O, Huỳnh Thị Kim T8, Nguyễn Huỳnh Minh C, Nguyễn Huỳnh Bảo C1, Nguyễn Trọng C2, Văn phòng C3, UBND xã T vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Mặt khác, văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 19/9/2021 có vi phạm pháp luật. Vì ông nội là cụ T5 và bà nội là cụ B2 có tất cả 09 người con nhưng Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 19/9/2021 chứng nhận có 06 người thừa kế, đưa thiếu 03 người là Nguyễn Thế T6, Nguyễn Thế T7, Nguyễn Thị Kim O. Do đó, cần làm rõ động cơ, mục đích và sai phạm này. Vì việc công chứng này đã loại bỏ quyền thừa kế của Nguyễn Thế T6, Nguyễn Thế T7, Nguyễn Thị Kim O nên không hợp pháp. Do đó, yêu cầu Tòa án tuyên hủy Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 19/9/2021, đồng thời hủy GCNQSDĐ cấp cho bà H. Đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi tài sản của bà H và đề nghị xem xét nhân thân của anh vì anh không có người em nào sinh năm 1985 và cũng không có người em nào sinh năm 1982.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/01/2023 của ông Nguyễn Thế B, Nguyễn Thế T2, Nguyễn Thị Mỹ H2, Nguyễn Thị Ngọc Á, Nguyễn Thế K thống nhất trình bày: Năm 1996, cha mẹ họp gia đình có đầy đủ 09 người con để chia lại đất mà ông T7, ông N1 và ông B đã đại diện đứng tên, chia cho con trai diện tích 0,6 ha, con gái 0,4 ha. Bà H được nhận diện tích 0,4 ha do Nguyễn Thế T7 đứng tên. Ông Nguyễn Thế T7 được chia diện tích 0,6 ha giáp phía Tây đất của bà H. Bà O được chia diện tích 0,4 ha giáp ranh đất với bà H2. Bà H2 được chia diện tích 0,4 ha giáp
ranh đất với bà O và ông T6. Ông T6 được chia diện tích 0,3 ha giáp ranh đất với bà H2 và ông N1. Ông N1 được chia diện tích 0,6 ha giáp ranh đất của ông T6 và ông T2. Ông T2 được chia diện tích 0,6 ha giáp ranh đất của ông N1 và ông B. Ông B được chia diện tích 0,6 ha giáp ranh đất ông T2 và ranh của người khác. Ông K được chia diện tích 01 ha giáp ranh đất với các thửa đất của người khác.
Mặc dù việc chia lại đất này cụ T5, cụ B2 không lập văn bản mà chỉ nói bằng lời nói nhưng các con đều thống nhất và căn cứ thực hiện. Sau đó ông N1 đã tách thửa chia cho bà H2 và ông T6 xong. Ông B đã tách thửa chia cho ông T2 xong.
Còn ông T7 do bị bệnh và GCNQSDĐ đang thế chấp cho ngân hàng nên chưa tách thửa sang tên cho bà H nhưng đã giao diện tích đất 0,4 ha cho bà H quản lý, sử dụng từ năm 1996, bà H đào ao và cho thuê. Sau khi nhận đất, phần ai được chia đều sử dụng đúng vị trí, không ai thắc mắc khiếu nại gì về việc cha mẹ chia đất kể từ đó cho đến nay là gần 30 năm.
Tại biên bản xác minh ngày 04/5/2022 của UBND xã T ông Võ Văn B1 trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp trước đây là của ông Nguyễn Văn T5, bà Trần Thị Bùi . Sau năm 1975 (thời bao cấp) nên ông T5 mới để 03 người con lớn đứng tên gồm Nguyễn Thế T7, Nguyễn Thế N1 và Nguyễn Thế B trên diện tích đất nêu trên nhằm tránh thuế nông nghiệp, đứng tên giấy đất tạm thời. Năm 1997 ông T5, bà B2 có chia đất lại cho 09 người con, trai thì 6 công đất, gái thì 4 công đất. Sau đó ông Thế B và Thế N1 đã thực hiện chia đất lại cho những người chưa có đất, còn ông Thế T7 (chồng bà N) thì chưa tách đất chia lại. Bà H đã sản xuất trên diện tích đất 4000m² đất mà cha mẹ và anh em thống nhất chia lại (phần đất đang tranh chấp) từ năm 1997 cho đến năm 2008 thì bà H thôi chồng nên không sản xuất nữa. Ông mới thuê lại để sản xuất được 02 năm thì nghỉ, đến năm 2010 thì ông Lê Thành T3 thuê đất của bà H sản xuất, đến năm 2013 thì ngưng sản xuất trả lại đất cho bà H. Sau đó thì ông É thuê đất của bà H sản xuất, đến năm 2021 thì ông tiếp tục thuê lại sản xuất. Đến năm 2022 thì con bà N là Nguyễn Trần T tranh
chấp. Năm 2009 bà H có thuê xe cuốc đất diện tích 300m² (ngang 15m x dài 20m) cũng không có ai tranh chấp.
Tại biên bản xác minh ngày 04/5/2022 của UBND xã T ông Lê Thành T3 trình bày: Sau khi được chia đất thì bà H sản xuất lúa được một thời gian thì bà H thôi chồng nên không còn sản xuất lúa nữa. Ông là người thuê đất của bà Hoàng đ sản xuất lúa khoảng năm 2010 sản xuất được 03 năm thì trả lại đất cho bà H, đến năm 2013 bà H cho ông É thuê sản xuất, đến năm 2017 thì ông É trả đất cho bà H, sau đó ông B1 thuê cho đến nay.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 03/4/2024 ông Nguyễn Văn É trình bày: Ông là người thuê phần đất tranh chấp của bà H 02 lần, lần thứ 1 thời hạn thuê là 03 năm từ năm 2013-2016, lần thứ 2 từ năm 2016 -2019 thì ngưng, thuê trồng lúa và trồng hoa màu.
Tại biên bản ghi lời khai ngày 03/4/2024 ông Dương Văn T4 trình bày: Vào năm 2000, ông là người đào ao cho bà H trong phần đất tranh chấp, đất đỗ cho bà H cất nhà còn lại ông bán cho người khác. Khoảng 02 năm sau thì ông tiếp tục nạo vét ao cho bà H thêm 01 lần nữa.
Tại bản án số 63/2023/DS-ST ngày 15/11/2023 của TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H về việc yêu cầu bà Trần Thị N, anh Nguyễn Minh T1, anh Nguyễn Trần T trả lại diện tích đất 5.173,5m², gồm các thửa 229, 230, 257, 258 và một phần thửa 421, thuộc tờ bản đồ số 48, đất tại ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh và chấm dứt hành vi ngăn cản bà Nguyễn Thị Kim H được quyền sử dụng diện tích đất 5.173,5m².
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/11/2023 bà Nguyễn Thị Kim H kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn bà N, anh Trần T và anh Minh T1 đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa. Bị đơn bà N, anh Trần T và anh Minh T1 vắng mặt không có lý do.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị N, anh Nguyễn Trần T và anh Nguyễn Minh T1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà N, anh Trần T và anh Minh T1 là có căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bà H, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Phần đất tranh chấp có diện tích 4.080m² (đo đạt thực tế có diện tích 5.173,5m²), tại phiên tòa bà H chỉ yêu cầu Trần Thị N, anh Nguyễn Trần T, anh Nguyễn Minh T1 trả diện tích 4.000m² thuộc các thửa 229, 230, 257, 258 và 01 phần thửa 421, tờ bản đồ 48, 58 tọa lạc ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh, có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 231, 256, 417 dài 3,53m + 5,44m +7,02m + 13,43m +3,26m + 20,67m + 19,59m +6,46m + 19,90m + 15,74m; phía Tây giáp đường đất dài 7,85m + 10,43m + 14.08m + 2,80m + 21,88m +3,42m +20,42m +4,91m + 25,13m +9,06m; phía Nam giáp thửa 421 còn lại dài 43,77m; phía Bắc giáp đường đất dài 34,88m.
[2.2] Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của ông bà để lại cho cha mẹ của bà là cụ Nguyễn Văn T5 và cụ Trần Thị Bùi . Cụ T5, cụ B2 tạm để cho ông Nguyễn Thế T7 đứng tên. Ông T7 được cấp GCNQSD đất số: 01235/QSDĐ/G6 ngày 15/12/1993 với diện tích 8.391m² gồm các thửa 1431, 1485, 1536, 1487, 1387 tờ bản đồ số 3 tại ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Năm 2016 ông T7 chết, đến năm 2019 bà N vợ của ông T7 đứng tên GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN:CS08728 ngày 17/7/2019, sau đó bà N tặng cho anh Nguyễn Trần T và anh Nguyễn Minh T1 theo GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CS 09766 ngày 13/8/2020 do anh Nguyễn Trần T đứng tên; GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CS 09767 ngày 13/8/2020 do anh Nguyễn Minh T1 đứng tên.
[2.3] Bà H trình bày: Năm 1996, cụ T5, cụ Bùi họp gia đình có tất cả 09 người con để chia đất lại cho các con, chia cho con gái mỗi người 04 ha, con trai mỗi người 06 ha. Trong đó chia cho bà H 04 ha trong phần đất ông T7 được cấp GCNQSDĐ. Chia cho bà H2, ông T6 trong phần đất ông N1 được cấp GCNQSDĐ. Chia cho ông T2 trong phần đất ông B được cấp GCNQSDĐ. Mặc dù việc chia đất không có giấy tờ nhưng các con đều đồng ý và đã thực hiện đúng theo sự thỏa thuận. Ông N1 đã tách thửa cho bà H2, ông T6, ông B đã tách thửa cho ông T2 xong. Bà H cũng đã sử dụng đất từ khi được chia cho đến năm 2022 thì xảy ra tranh chấp với bà N, anh Trần T và Minh T1 là vợ con của ông T7.
Xét lời trình bày của bà H thấy rằng: Qua kết quả xác minh nguồn gốc phần đất tranh chấp của UBND xã T đối với ông Võ Văn B1, ông Lê Thành T3, ông Dương Văn T4 và ông Nguyễn Văn É thể hiện ông B1, ông T3, ông É là người trực tiếp thuê phần đất tranh chấp của bà H để sản xuất một thời gian dài từ năm 2008-2022. Ông T4 là người cuốc đất trên phần đất tranh chấp cho bà H đổ đất làm nhà và cuốc đất để bán cho người khác. Điều này chứng minh bà H có sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 1996 cho đến năm 2022 thì xảy ra tranh chấp. Đồng thời lời trình bày của bà H cũng phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Thế B, Nguyễn Thế T2, Nguyễn Thị Mỹ H2, Nguyễn Thị Ngọc Á (vợ ông Nguyễn Thế N1), Nguyễn Thế K là anh chị em ruột của ông T7. Trong khi ông N1 đã tách thửa cho bà H2,
ông T6; ông B đã tách thửa cho ông T2 xong, ông T7 chưa tách thửa cho bà H là trái với sự thỏa thuận chia đất giữa 09 người con với cụ T5 và cụ B2.
Mặc khác thì bà H cũng trình bày sau khi ông T7 chết, bà H có liên hệ với bà N, anh Trần T và Minh T1 để được cấp GCNQSDĐ thì được bà N đồng ý, anh Trần T yêu cầu đưa 9.000.000 đồng để chi phí cho việc làm GCNQSDĐ nhưng sau khi nhận tiền anh Trần T không tiến hành tách thửa cho bà H.
[3] Từ những phân tích trên có cơ sở xác định lời trình bày của bà H là thật: năm 1996 cha mẹ bà H cùng 09 anh chị em đã thỏa thuận chia cho bà H phần đất này và bà H đã sử dụng ổn định, liên tục trên 20 năm, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H. Do đó có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà H.
Do phần đất tranh chấp ông T7 đứng tên GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: 12353QSDĐ/G6 ngày 15/12/1993, năm 2016 ông T7 chết bà N đứng tên GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CS08728 ngày 17/7/2019, sau đó bà N tặng cho anh Nguyễn Trần T và anh Nguyễn Minh T1 theo GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CS 09766 ngày 13/8/2020 do anh Nguyễn Trần T đứng tên; GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CS 09767 ngày 13/8/2020 do anh Nguyễn Minh T1 đứng tên nên kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T điều chỉnh thửa 229/486,7m², thửa 230/512,4m² tờ bản đồ 58 GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CS08728 ngày 17/7/2019 do bà Trần Thị N đứng tên; thửa 421/1.675,3m², tờ bản đồ 48 GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CS 09766 ngày 13/8/2020 do anh Nguyễn Trần T đứng tên; thửa 257/691,6m², 258/634,0m² tờ bản đồ 58 GCNQSDĐ số vào sổ cấp GCN: CS 09767 ngày 13/8/2020 do anh Nguyễn Minh T1 đứng tên để cấp lại cho bà H theo quyết định của bản án.
Đối với toàn bộ cây tràm vàng do bà N, anh Trần T và Minh T1 trồng năm 2022, thời điểm 02 bên tranh chấp. Do bà H được quyền sử dụng phần đất tranh chấp nên giao cho bà H được quyền sở hữu toàn bộ cây tràm trên đất tranh chấp, bà H có nghĩa vụ trả cho bà N, anh Trần T và anh M Triết giá trị cây tràm vàng trồng trên đất với đường kính nhỏ hơn 05cm/01 cây, với diện tích 4.000m² theo biên bản định giá ngày 03/8/2023 là 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà H được chấp nhận nên tính án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
Do yêu cầu khởi kiện của bà H được chấp nhận nên bà N, anh Trần T và anh
Minh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm của số tiền phải trả cho bà N, anh Trần T và anh Minh T1 là 32.000.000 đồng x 5%= 1.600.000 đồng.
Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của bà H được chấp nhận nên bà N, anh Trần T và anh Minh T1 phải chịu chi phí tố tụng là 9.000.000 đồng. Bà H đã tạm ứng số tiền 9.000.000 đồng nên bà N, anh Trần T và anh Minh T1 phải trả lại cho bà H số tiền 9.000.000 đồng.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim H.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm 63/2023/DS-ST ngày 15/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.
- Căn cứ Điều 100, Điều 101 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 164, 166 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim H đối với bà Trần Thị N, anh Nguyễn Minh T1 và anh Nguyễn Trần T về việc “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
Bà Nguyễn Thị Kim H được quyền sử dụng phần đất diện tích 4000m² gồm các thửa 229, 230, 257, 258 và một phần thửa 421 thuộc tờ bản đồ số 48, 58 tọa lạc ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh có tứ cận: Phía Đông giáp thửa 231, 256, 417 dài 3,53m + 5,44m +7,02m + 13,43m +3,26m + 20,67m + 19,59m +6,46m + 19,90m + 15,74m; phía Tây giáp đường đất dài 7,85m + 10,43m + 14.08m + 2,80m + 21,88m +3,42m +20,42m +4,91m + 25,13m +9,06m; phía Nam giáp thửa 421 còn lại dài 43,77m; phía Bắc giáp đường đất dài 34,88m.
Kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T điều chỉnh thửa 229/486,7m², thửa 230/512,4m² tờ bản đồ 58 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS08728 ngày 17/7/2019 do bà Trần Thị N đứng tên; thửa
421/1.675,3m², tờ bản đồ 48 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS 09766 ngày 13/8/2020 do anh Nguyễn Trần T đứng tên; thửa 257/691,6m², thửa 258/634,0m² tờ bản đồ 58 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CS 09767 ngày 13/8/2020 do anh Nguyễn Minh T1 đứng tên để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H theo quyết định của bản án.
Bà Nguyễn Thị Kim H có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị N, anh Nguyễn Trần T và anh Nguyễn Minh T1 số tiền 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng).
Bà Nguyễn Thị Kim H được quyền sở hữu toàn bộ cây tràm vàng trồng trên diện tích 4000m² gồm các thửa 229, 230, 257, 258 và một phần thửa 421 thuộc tờ bản đồ số 48, 58 tọa lạc ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chưa thi hành hết số tiền như đã nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Bà Nguyễn Thị Kim H được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án này.
2. Về chi phí tố tụng: Bà Trần Thị N, anh Nguyễn Trần T và anh Nguyễn Minh T1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà H 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) tiền chi phí đo đạc định giá.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Trần Thị N, anh Nguyễn Trần T, anh Nguyễn Minh T1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Bà H phải chịu 1.600.000 đồng khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.250.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0022768 ngày 22/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, hoàn trả cho bà H 1.650.000 đồng (một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả cho bà H 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0012038 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu tỉnh Tây Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Dương Thúy Hằng |
Bản án số 190/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 190/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
