Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2024/HS-ST

Ngày 24 - 9 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Tuấn Long.

Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lèo Thị Chan.
  2. Ông Lê Bắc Hải.
  3. Ông Cầm Văn Chinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trần Diệu Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 197/2024/TLST- HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Lò Văn P; tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/10/1963, sinh tại huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản B, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hoá 7/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn P1 (đã chết) và bà Lò Thị H (đã chết); Bị cáo có vợ là Bạc Thị D sinh năm 1965 (đã ly hôn) có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 01/HSST ngày 14/01/2004 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; Xử phạt bị cáo Lò Văn P 04 năm tù về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý, phạt bổ sung 2.000.000 đồng tiền N (đã được xoá án tích); Bị bắt, tạm giam từ ngày 15/4/2024 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh S, đến nay “có mặt”.

2. Sộng A H1; tên gọi khác: Không, sinh ngày 17/6/1992, sinh tại huyện S, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 6/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Sộng Vạ L sinh năm 1968 và bà Vàng Thị D1 sinh năm 1985; Vị cáo có vợ là Giàng Thị D2 sinh năm 1988 có 02 con nhỏ (con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 17/4/2024 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh S, đến nay “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn P: Ông Lò Văn P2 - Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh S “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Sộng A: Ông Đèo Văn H2 - Luật sư thuộc đoàn Luật sư tỉnh S “có mặt”.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Vì Văn L1; sinh ngày 11/01/2000. Địa chỉ: Bản M, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La “vắng mặt có lý do”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 18 giờ 50 phút ngày 15/4/2024, tổ công tác Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ F, phường C, thành phố S. Phát hiện, bắt quả tang Lò Văn P, sinh năm 1963, trú tại bản Bó Sản, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La đang có hành vi vận chuyển, cất giữ trái phép 34 túi nilon (07 túi màu hồng, 27 túi màu xanh) bên trong đều chứa các viên nén hình tròn màu hồng. P khai nhận là hồng phiến vận chuyển, cất giữ nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn P, thu giữ vật chứng gồm có.

01 túi tải rứa nhiều màu sắc, bên trong có 01 túi màu đỏ bọc 34 túi ni lon có số lượng 6.510 viên nghi là ma túy tổng hợp.

Ngoài ra Cơ quan Công an còn tạm giữ của Lò Văn P: 01 xe máy BKS 26C1-310.13, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, 01 con dao bằng kim loại, 01 căn cước công dân mang tên Lò Văn P, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Vì Văn L1.

Căn cứ vào lời khai của Lò Văn P mở rộng điều tra, ngày 17/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố S, tỉnh Sơn La ra lệnh giữ, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Sộng A, trú tại bản K, xã M, huyện S. Quá trình thi hành lệnh, thu giữ của Sộng A H3: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus vỏ màu hồng.

Hồi 14 giờ 00 ngày 16/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố S, tỉnh Sơn La đã thành lập hội đồng mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định vật chứng thu giữ của Lò Văn P, kết quả: Số viên nén màu hồng thu giữ trong 34 túi nilon có số lượng 6.510 viên, khối lượng 716,09 gam. Trích mỗi tủi 05 viên khối lượng 18,70 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, đánh ký hiệu từ L1 đến L34.

Kết luận giám định số 918/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K, Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu từ L1 đến L34 gửi giám định đều là ma túy, Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 18,70 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 716,09 gam, loại Methamphetamine.”

Quá trình điều tra Lò Văn P, Sộng A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:

Khoảng tháng 01/2024, Lò Văn P đến khu vực bản K, xã M, huyện S tìm mua trâu bò, tại đây P gặp và quen với Sộng A H3. Hai người trao đổi số điện thoại để liên lạc. Ngày 24/3/2024, P gọi điện cho H3 đặt mua 20.000.000 đồng hồng phiến, H3 đồng ý và hẹn khi nào tìm mua được ma túy sẽ gọi cho P. Ngày 25/3/2024, H3 nhận được điện thoại của M, là người Hông quen khi sang Lào chơi. Qua trao đổi H3 hỏi M có ma túý hồng phiến bán không, Mu bảo có, H3 nói có người nhờ mua hộ 20.000.000 đồng hồng phiến, M đồng ý và hẹn tối cùng ngày đến khu vực lán nương bỏ hoang gần nương nhà H3 ở bản K gặp nhau trao đổi ma tuý. Khi gặp nhau, M đưa cho H3 01 túi vải nhiều màu và nói bên trong có ma tuý. H3 nhận túi ma túy mang đến lán nương của gia đình cất giấu. Sáng ngày 26/3/2024, H3 gọi điện cho P thông báo đã tìm mua được ma túý và hẹn P đến khu vực đường mòn thông từ Quốc lộ D vào bản Kéo Co để giao dịch mua bán ma tuý. Khi gặp nhau, P đưa cho H3 20.000.000 đồng, H3 đưa lại cho P túi vải chứa ma tuý. Sau khi nhận tiền, H3 mang về lán nương bỏ hoang đưa toàn bộ 20.000.000 đồng cho M, Mu trả công cho H3 1.500.000 đồng, số tiền trên H3 đã chi tiêu cá nhân hết. Sau khi mua được ma tuý, P mang về nhà mở ra kiểm đếm được 34 túi hồng phiến, P cất giấu số ma túy trên dưới gầm nhà. Sáng ngày 15/4/2024, P đi mua thức ăn tại khu vực cầu cứng thuộc xã M, huyện S thì gặp một người phụ nữ tự giới thiệu tên là H4, trú tại bản Cọ, xã T, huyện T. Qua trao đổi, H4 nói có nhu cầu tìm mua ma tuý hồng phiến, P nói hiện có 34 túi hồng phiến bán giá 25.000.000 đồng, H4 đồng ý mua và hẹn Phát chiều cùng ngày đến khu vực quốc lộ D thuộc địa phận phường C, thành phố S giao dịch mua bán. Sau khi thoa thuận xong, P về nhà lấy số ma túy đang cất giấu dưới gầm nhà treo vào móc để đồ của xe máy BKS 26C1-310.13 rồi điều khiến ra thành phố S, khi đến khu vực quốc lộ D thuộc địa phận tổ F, phường C, thành phố S thì bị, tổ công tác Công an thành phố S phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng 716,09 gam Methamphetamine, và vật chứng liên quan đến vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 130/CT-VKS-P1 ngày 05/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Lò Văn P, bị cáo Sộng A H3 về tội: Tội mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm b khoản 4 điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lò Văn P, Sộng A H3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố, các bị cáo không khai báo gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn P, Sộng A phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma tuý.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s, điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn P mức án tù chung thân.

Đề nghị áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Sộng A H3 mức án tù chung thân.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Lò Văn P, Sộng A được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng và án phí: Áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau khi giám định; tịch thu tiêu huỷ 01 (một) con dao bằng kim loại dài 25 cm. Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại iphone 8 plus màu hồng đã qua sử dụng của bị cáo Sộng A H3, 01 (một) chiếc điện thoại OPPO màu xanh của bị cáo Lò Văn P là phương tiện liên lạc dùng vào việc phạm tội; Đề nghị tuyên trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh V Văn Lợi 01 chiếc xe máy và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Vì Văn L1, trả lại cho bị cáo Lò Văn P CCCD số [...] mang tên Lò Văn P. Đề nghị tuyên truy thu tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền do phạm tội mà có của bị cáo Sộng A H3 đã tiêu là 1.500.000 đồng.

Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Lời bào chữa của Luật sư Lò Văn P2 bào chữa cho bị cáo Lò Văn P: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La Quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn P về tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Là có căn cứ đúng quy định của pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai. Nhất trí với lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tích cực giúp đỡ cơ quan điều tra phát hiện tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án, nhân thân bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của pháp luật, đề nghị xử phạt bị cáo Lò Văn P mức án tù thấp nhất trong khung hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và xem xét đề nghị tuyên trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chiếc xe máy là chủ sở hữu hợp pháp.

Lời bào chữa của Luật sư Đèo Văn H2 bào chữa cho bị cáo Sộng A H3: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La Quyết định truy tố đối với bị cáo về tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng quy định của pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai. Nhất trí với lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa hiểu biết pháp luật còn hạn chế là những tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Thể hiện tính nhân đạo khoan hồng của pháp luật, đề nghị xử phạt bị cáo Sộng A H3 mức án tù thấp nhất trong khung hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Lò Văn P, Sộng A nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và đều xin giảm nhẹ hình phạt. Không có ý kiến tranh luận và đối đáp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đối đáp và tranh luận lại quan điểm bào chữa của các Luật sư: Căn cứ vào khối lượng mua bán trái phép chất ma túy của các đặc biệt lớn, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và trình bày luận tội đối với các bị cáo tại phiên tòa, không tranh luận đối đáp gì thêm.

Lời nói sau cùng các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt mức án tù không có thời hạn và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn P, Sộng A:

Ngày 26/3/2024, tại bản K, xã M, huyện S, tỉnh sơn La, Sộng A H3 bán trái phép cho Lò Văn P 716,09 gam Methamphetamine, hưởng lợi 1.500.000 đồng. Ngày 15/4/2024, Lò Văn P trên đường mang số ma tuý trên đi bán lại kiếm lời, khi đến khu vực tổ F, phường C, thành phố S thì bị tổ công tác Công an thành phố S phát hiện, bắt quả tang. Ngày 17/4/2024, Sộng A H3 bị bắt trong trường hợp khẩn cấp.

Hành vi phạm tội của bị cáo Lò Văn P, Sồng A H5 được chứng minh bằng các căn cứ sau:

  • Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 15/4/2024 đối với Lò Văn P.
  • Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp ngày 17/4/2024 đối với Sồng A H6.
  • Biên bản làm việc về nội dung kiểm tra thiết bị điện thoại ngày 17/4/2024.

Kết luận giám định số 918/KL-KTHS ngày 17//4/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: "Mẫu ký hiệu A1 gửi giám định không xác định là chất gì, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,2 gam. Khối lượng vật chứng thu giữ 9,04 gam. Mẫu ký hiệu từ L1 đến L34 gửi giám định đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là L1 = 0,55 gam, 12 = 0,55 gam, L3 = 0,55 gam, L4= 0,55 gam, L5 = 0,55 gam, L6 = 0,55 gam, L7=0,55 gam, L8 = 0,55 gam, L9 = 0,55 gam, L10 = 0,55 gam, L11 = 0,55 gam, L12 = 0,55 gam, L13 = 0,55 gam, L14 = 0,55 gam, L15 = 0,55 gam, L16 = 0,55 gam, L17 = 0,55 gam, L18 = 0,55 gam, L19 = 0,55 gam, L20 = 0,55 gam, L21 = 0,55 gam, L22 = 0,55 gam, L23 = 0,55 gam, L24 = 0,55 gam, L25 = 0,55 gam, L26 = 0,55 gam, L27 = 0,55 gam, L28 = 0,55 gam, L29 = 0,55 gam, L30 = 0,55 gam, L31 = 0,55 gam, L32 = 0,55 gam, L33 = 0,55 gam, L34 = 0,55 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 716,09 gam; loại Methamphetamine”.

Lời khai nhận tội của các bị cáo Lò Văn P, Sộng A H3 tại cơ quan điều tra và tại phiên toà là phù hợp với nhau, phù hợp với việc cơ quan chức năng bắt Lò Văn P đang có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.

Trên cơ sở đó có đầy đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn P, bị cáo Sộng A H3 phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma tuý vi phạm điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh S là có căn cứ đúng pháp luật

[3] Về khung hình phạt áp dụng:

Các bị cáo Lò Văn P, Sộng A mua, bán trái phép 716,09 gam Methamphetamine, các bị cáo phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma túy có tình tiết định khung hình phạt “Heroine, C, Methamphetamine, A, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên”, được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức khung hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Lò Văn P, Sộng A:

Các bị cáo Lò Văn P, Sộng A biết rõ việc mua bán trái phép chất ma tuý là nguy hiểm cho xã hội trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện việc mua bán ma tuý để kiếm lời. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác. Bản thân các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, năng lực hành vi, các bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ vụ lợi, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Các bị cáo thực hiện phạm tội trong vai trò đồng phạm, áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lò Văn P, Sộng A.

[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự.

Xét nhân thân bị cáo Lò Văn P là người có trình độ văn hoá, am hiểu pháp luật, coi thường pháp luật cố tình phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Nhân thân bị cáo đã có tiền án tại bản án số 01/HSST ngày 14/01/2004 của Toà án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La đã xử phạt bị cáo Lò Văn P 04 (bốn) năm tù về tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý (đã đương nhiên được xoá án tích).

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đã tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét nhân thân bị cáo Sộng A H3, phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nhân thân bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa hiểu biết pháp luật còn hạn chế là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào nhân thân của của các bị cáo Lò Văn P, Sộng A, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng ma túy mua bán đặc biệt lớn. Hội đồng xét xử thấy áp dụng Điều 39 Bộ luật Hình sự cần lên một mức án tương xứng nghiêm khắc với hành vi phạm tội của từng bị cáo, áp dụng chế tài hình sự thật nghiêm khắc bằng hình thức tù không có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục như quan điểm luận tội đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tại phiên tòa. Đây là bài học đối với các bị cáo Lò Văn P, Sộng A và răn đe đối với các đối tượng khác ở ngoài xã hội đang có ý định phạm tội tương tự. Mới đảm bảo tính chất nghiêm minh của pháp luật, giáo dục và phòng ngừa chung nhất là công tác phòng chống tội phạm nói chung và công tác phòng chống tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.

[6] Các bị cáo Lò Văn P, Sộng A đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử xét thấy thời hạn tạm giam đối với các bị cáo còn trên 45 ngày. Duy trì Lệnh tạm giam của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La đối với các bị cáo.

[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù, các bị cáo Lò Văn P, Sộng A còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo sống chủ yếu vào nông nghiệp, không có thu nhập khó khăn về kinh tế, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về các đối tượng có liên quan đến vụ án:

Về nguồn gốc 716,09 gam Methamphetamine, Sộng A khai nhận mua được của một người đàn ông tên M, quốc tịch Lào (không rõ lai lịch, địa chỉ), qua điều tra xác minh ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu chứng cứ nào khác, Cơ quan điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra làm rõ người bán ma túy cho H3.

Đối với người phụ nữ Lò Văn P khai tự giới thiệu tên H4, trú tại bản Cọ, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La. Cơ quan điều tra đã xác minh, thu thập ảnh các đối tượng tên H4 trú tại địa chỉ trên theo đặc điểm nhận dạng Lò Văn P mô tả, kết quả P không nhận dạng được đối tượng đã đặt mua ma tuý của bị cáo vào ngày 15/4/2024, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý người đạt mua ma túy của Lò Văn P.

[9] Về xử lý vật chứng vụ án và tài sản liên quan:

Đối với số ma túy Methamphetamine còn lại sau khi trích rút mẫu gửi giám định, là hàng quốc cấm Nhà nước cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ cùng các túi nilon đựng vật chứng ban đầu, vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 01 (Một) con dao bằng kim loại dài 25cm không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh thu giữ của Lò Văn P, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, tạm giữ của Sộng A H3". Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo Lò Văn P, Sồng A H5 đã sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần tuyên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh bạc biểm kiểm soát 26C1 - 310.13, 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 26000475 mang tên Vì Văn L1. Hội đồng xét xử xét thấy Vì Văn L1 là chủ sở hữu phương tiện xe mô tô BKS 26C1-310.13, ngày 15/4/2024, Lò Văn P đã sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định, anh L1 không biết và không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của Lò Văn P. Chấp nhận yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trả lại chiếc xe cho anh Vì Văn L1. Đối với 01 (Một) căn cước công dân số [...] do mang tên Lò Văn P. Hội đồng xét xử xét thấy giấy tờ tùy thân của bị cáo, bị cáo không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không liên quan đến vụ án, tuyên trả lại cho bị cáo Lò Văn P. Đối với số tiền 1.500.000 đồng do phạm tội mà có của bị cáo S A Hông bị cáo đã tiêu hết không thu giữ cần tuyên truy thu tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Vận dụng điểm a, điểm b, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[10] Về án phí: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Lò Văn P và bị cáo Sộng A H3 là dân tộc thiểu số sống ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo.

[11] Về quyền kháng cáo: Vận dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 4 điều 251; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 39, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn P phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Lò Văn P tù chung thân “thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị tạm giữ tạm giam ngày 15/4/2024".

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lò Thị H7 được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lò Văn P được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

2. Căn cứ điểm b khoản 4 điều 251; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 39, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Sộng A H3 phạm tội: Tội mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Sộng A H3 tù chung thân “thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ tạm giam là ngày 17/4/2024"

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Sộng A H3 được quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

3. Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, điểm b, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điểm a, điểm b, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên xử lý vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục thi hành án dân sự tỉnh Sơn La như sau:

Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) hộp vật chứng nguyên niêm phong, trên mặt hộp vật chứng được dán các giấy niêm phong số 084344 và 084345 và băng dính trong suốt, trên mỗi giấy niêm phong có chữ ký, dòng ghi họ tên của thành phần tham gia niêm phong, đối tượng bị bắt, 01 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố S và dòng chữ "Cơ quan CSĐT CATP Sơn La hồi 15 giờ 30 phút ngày 16/4/2024 tại C1". Trên một mặt hộp vật chứng có dòng chữ: "Vật chứng lưu kho vụ Lò Văn P, sinh năm 1963 - Mua bán trái phép chất ma túy.

Tuyên tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, bên trong máy có lắp 01 sim điện thoại, đã qua sử dụng (thu giữ của Lò Văn P), 01 (Một) chiếc phong bì nguyên niêm phong, một mặt ghi: "Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu hồng, lắp 01 sim điện thoại mạng Viettel tạm giữ của Sộng A H3".

Tuyên truy thu tịch thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền do phạm tội mà có của bị cáo S A H3 là 1.500.000 đồng tiền N (một triệu năm trăm nghìn đồng chẵn).

T trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh V Văn Lợi: 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh bạc biểm kiểm soát 26C1 - 310.13, 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 26000475 do Công an xã C, huyện S, tỉnh Sơn La cấp ngày 08/05/2023 mang tên Vì Văn L1.

T trả lại cho bị cáo Lò Văn P: 01 (Một) căn cước công dân số [...] do Cục C2 về TTXH cấp ngày 26/09/2022 mang tên Lò Văn P.

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 điều 12, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn P, bị cáo Sộng A H3.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo Lò Văn P, Sộng A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2024)./.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh V Văn L1 được biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo thủ tục hợp lệ về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình đã được tuyên ./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - PC04-Công an tỉnh Sơn La;
  • - Trại giam công an tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Phòng KTNV – THAHS
  • - Lưu HS-VA.

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Tuấn Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tội mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 190/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sộng A H, Lò Văn P mua bán trái phép chất ma tuý tù chung thân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger