Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN


Bản án số: 190/2024/HS-ST

Ngày 23 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Liên.

Ông Trần Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Uyên Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Từ Sĩ Trần Thuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 05/TB-TA ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/HSST-QĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành N (Tên gọi khác: R), S năm 1991 tại tỉnh Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố B, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Bùi Thị M.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 15/9/2014, Nguyễn Thành N bị Công an phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 200.000 đồng về hành vi gây rối trật tự khu dân cư; đã nộp phạt ngày 15/9/2014.

1

- Ngày 09/03/2015, Nguyễn Thành N bị Công an phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

- Ngày 26/7/2017, Nguyễn Thành N bị Công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000 đồng về hành vi hủy hoại tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 24/01/2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

- Anh Nguyễn Văn H (Cu) - Sinh năm 1990 (Có mặt).

Nơi cư trú: Khu phố B, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Hiện đang bị tạm giam trong một vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Bùi Thị M (H1) - Sinh năm 1958 (Có mặt).

- Bà Nguyễn Thị M1 - Sinh năm 1962 (Có mặt).

Cùng nơi cư trú: Khu phố B, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Người làm chứng:

- Bà Lê Thị C - Sinh năm 1973 (Vắng mặt).

- Ông Cao H2 - Sinh năm 1973 (Vắng mặt).

- Chị Nguyễn Thị Bé N2 - Sinh năm 1994 (Có mặt).

- Anh Nguyễn Thành S1 - Sinh năm 1996 (Có mặt).

Cùng nơi cư trú: Khu phố B, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 11/11/2023, Nguyễn Văn H - Sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố B, Phường V, thành phố P - T nhờ Nguyễn Văn Đ - Sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu phố C, phường V, thành phố P - T chở H đến nhà của Nguyễn Thành N - Sinh năm 1991 ở khu phố B, phường V, thành phố P - T để nói chuyện về việc N hay đến quán bánh căn của bà Nguyễn Thị M1 - Sinh năm 1962; nơi cư trú: Khu phố B, phường V, thành phố P - T là mẹ ruột của H để chửi bà M1 về việc vay tiền không trả. Khi tới nhà N, H đã chửi bới N và nói: “Mày muốn gì thì lên ngã ba gặp tao” (Ngã ba là đầu hẻm A đường T, phường V). Sau đó, H đi bộ

2

về quán bánh tráng của Nguyễn Thị Bé N2 - Sinh năm 1994; nơi cư trú: Khu phố B, phường V, thành phố P - T là em gái của H ở đầu hẻm A trên đường T, còn Đ thì ở lại nhà N. Sau khi H đi thì Đ nói với N “Thôi anh đừng có lên”, N nói lại với Đ “Để anh lên xem nó thế nào”. Lúc này, Nguyễn Thành S1 - Sinh năm 1996; nơi cư trú: Khu phố B, phường V, thành phố P - T là em trai của N đang ở trong nhà nghe ồn ào nên chạy ra thì thấy N đang dắt xe mô tô NOUVO, biển số 85B1-421.97 của mình; S1 hỏi thì N nói H hẹn N lên ngã ba để nói chuyện. S1 khuyên N đừng đi nhưng N nói cứ lên xem thế nào nên S1 đòi đi cùng với N để nếu NH đánh nhau sẽ can ngăn. Sau đó, N điều khiển xe mô tô chở S1 đi gặp H. Khi tới đầu hẻm A đường T (Lúc này khoảng 16 giờ 30 phút), H đang ngồi ăn bánh tráng tại quán bánh tráng của Nguyễn Thị Bé N2; thấy NS1 chạy xe mô tô đến, nghĩ là N gọi người đi cùng để đánh mình nên sẵn đang cầm cây kéo để cắt bánh tráng, H đã cầm kéo lao về phía Nam và S1. Khi H vừa chạy tới, thấy H cầm kéo chạy về phía mình thì S1 nhảy xuống xe dùng chân đạp vào người H làm H ngã xuống đường, N cùng S1 lao vào đánh H và đè H nằm xuống đường; thấy anh mình bị đánh, Nguyễn Thị Bé N2 cũng bê nồi mắm ruốc chạy tới chỗ NS1 đang đánh H rồi hất mắm ruốc về phía của NS1. Cả NS1 đều bị dính mắm ruốc do Nguyễn Thị Bé N2 hất vào người, S1 bỏ ra chỗ khác vì người dính mắm ruốc. Còn N, H tiếp tục đánh nhau qua lại, lúc này cây kéo H cầm trên tay bị văng ra khỏi tay và rơi xuống đường. Thấy vậy, N dùng tay phải nhặt cây kéo lên, cầm kéo bằng tay phải đâm một nhát trúng vào vùng hông trái của H gây thương tích. Sau khi đâm H xong, Nam quăng cây kéo xuống đường và cởi áo ra vì lúc này người của N dính mắm ruốc do bị Nguyễn Thị Bé N2 hất vào người. Thấy N ném kéo, H liền nhặt cây kéo lên và dùng tay phải đâm một nhát trúng vào vùng hông trái của N gây thương tích rồi quăng cây kéo xuống đường. Sau đó, HN được mọi người can ngăn nên các bên không đánh nhau nữa, HN cùng được đưa đi cấp cứu ở Bệnh viện đa khoa tỉnh N.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 08/KLTTCT- TTGĐYK-PY, ngày 21/12/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của anh Nguyễn Văn H36%, cụ thể như sau:

  • + Vết thương chéo vùng hông trái sẹo liền tốt phẳng mềm kích thước (1,2x0,2)cm (01%).
  • + Vết mổ đường trắng giữa trên dưới rốn sẹo liền kích thước (14,5x0,2)cm. (02%); vào ổ bụng thấy thủng nhiều lỗ ruột non đoạn hỗng tràng (31%); thủng mạc treo (03%).
  • + Vết mổ dẫn lưu hố chậu trái sẹo liền tốt kích thước (1,3x0,2)cm (01%).

3

- Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương đã qua điều trị nhận định do vật sắc nhọn gây nên.

- Với những tổn thương cơ thể như trên nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ gây ảnh hưởng đến tính mạng.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 06/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 21/12/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thành N64%.

* Vật chứng của vụ án:

- 01 cây kéo dài 23 cm, lưỡi kéo dài 12cm làm bằng kim loại màu trắng, chiều ngang thân kéo dài 2cm; cán kéo dài 11cm bọc nhựa bên ngoài mà Nguyễn Thành N sử dụng gây thương tích cho Nguyễn Văn H. Đây là vật chứng của vụ án nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 xe mô tô hiệu YAMAHA NOUVO, biển số 85B1-421.97 do Nguyễn Thành S1 đứng tên chủ sở hữu. Khi Nguyễn Thành N sử dụng xe này chở Nguyễn Thành S1 đi thì S1 chỉ nghĩ là đi lên gặp Nguyễn Văn H để nói chuyện, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô trên cho S1.

- Đối với hành vi của Nguyễn Văn H gây thương tích cho Nguyễn Thành N 64% (Theo bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 06/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 21/12/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N). Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P - T đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” để điều tra, truy tố trong một vụ án khác.

- Đối với hành vi của Nguyễn Thành S1: Khi biết Nguyễn Thành N đi gặp Nguyễn Văn H thì S1 đã can ngăn nhưng N vẫn đi. Biết không ngăn được N nên S1 đã xin đi cùng với mục đích can ngăn nếu HN đánh nhau. Tuy nhiên, khi đến đầu hẻm A đường T, nhìn thấy H cầm kéo lao về phía mình và N thì S1 có dùng chân đạp vào người H nhưng không gây thương tích cho H với mục đích để tự vệ. Khi bị Nguyễn Thị Bé N2 hất mắm ruốc vào người thì S1 đi ra chỗ khác để cởi áo; lúc này chỉ còn NH đánh nhau, việc N dùng kéo đâm H gây thương tích là hành vi vượt quá của N, S1 không tham gia. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Thành S1 không đồng phạm với Nguyễn Thành N về tội “Cố ý gây thương tích” trong vụ án này. Tuy nhiên, hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” của Nguyễn Thành S1 đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 của Nghị định số 144/2021/NĐ-NP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã

4

hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình nên Cơ quan điều tra đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính đối với S1.

* Trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, bà Bùi Thị M là mẹ ruột của Nguyễn Thành N đã thay mặt N tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn H (Do bà Nguyễn Thị M1 là mẹ ruột của H nhận thay) số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại Nguyễn Văn H tự nguyện làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Thành N.

Cáo trạng số: 106/CT-VKSPRTC ngày 06/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 (Điểm a khoản 1) Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đồng ý với kết quả giám định tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 08/KLTTCT- TTGĐYK-PY, ngày 21/12/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận thương tích của anh Nguyễn Văn H là 36%. Bị cáo đã bồi thường cho anh H 5.000.000 đồng.

- Bị hại là anh Nguyễn Văn H trình bày: Do anh đến nhà bị cáo gây sự nên sau đó xảy ra việc bị cáo gây thương tích cho anh. Anh đồng ý với kết quả giám định tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 08/KLTTCT- TTGĐYK-PY, ngày 21/12/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh N, kết luận thương tích của anh là 36%. Bị cáo đã bồi thường cho anh số tiền điều trị thương tích là 5.000.000 đồng nên anh không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Bùi Thị M trình bày: Bà đã thay mặt con là bị cáo Nguyễn Thành N bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn H (Do mẹ của H là bà Nguyễn Thị M1 nhận thay vì H cũng đang bị tạm giam) số tiền 5.000.000 đồng. Đây là tiền của bà tự nguyện bồi thường thay cho con nên không yêu cầu bị cáo N phải trả lại.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị M1 trình bày: Bà đã thay mặt con là bị hại Nguyễn Văn H (Do H đang bị tạm giam) nhận số tiền 5.000.000 đồng từ mẹ của bị cáo Nguyễn Thành N là bà Bùi Thị M (Do N cũng đang bị tạm giam). Bà đã dùng số tiền nêu trên để chi phí thuốc men, viện phí cho Nguyễn Văn H.

5

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
  • + Áp dụng: Điểm c khoản 3 (Điểm a khoản 1) Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Bà Bùi Thị M là mẹ ruột của bị cáo Nguyễn Thành N đã thay mặt bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn H (Do bà Nguyễn Thị M1 là mẹ ruột của H nhận thay) số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại Nguyễn Văn H không yêu cầu bồi thường thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  • + Về vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo dài 23 cm, lưỡi kéo dài 12cm làm bằng kim loại màu trắng, chiều ngang thân kéo dài 2cm; cán kéo dài 11cm bọc nhựa bên ngoài. Đây là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị hại không có ý kiến tranh luận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại, hành vi của bị cáo là sai trái, rất ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố P - T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

6

[1.2] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Người làm chứng là ông Cao H2 và bà Lê Thị C vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra; không có ai đề nghị hoãn phiên tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời trình bày của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; đủ cơ sở xác định: Do mâu thuẫn với anh Nguyễn Văn H nên khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/11/2023 tại ngã 3 hẻm A đường T thuộc khu phố B, phường V, thành phố P - T khi hai bên đang đánh nhau qua lại; cây kéo bằng kim loại dài 23cm anh H đang cầm bị văng ra khỏi tay, rơi xuống đường. Bị cáo Nguyễn Thành N nhặt cây kéo lên, cầm kéo bằng tay phải đâm một nhát trúng vào vùng hông trái của anh H gây thương tích 36%. Bởi vậy việc truy tố, xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thành N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 (Điểm a khoản 1) điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng cây kéo (hung khí nguy hiểm) đâm vào thân thể người khác là gây hại tới sức khỏe, nguy hiểm đến tính mạng của họ và vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, vi phạm pháp luật hình sự. Do vậy, cần phải kịp thời đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật, áp dụng một mức hình phạt nghiêm mới phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[2.3] Mặc dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu vì đã từng bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạt hành chính. Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt và áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo trong khung hình phạt liền kề là phù hợp.

[2.4] Căn cứ vào các phân tích trên đây, thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra; đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng, chống loại tội phạm này tại địa phương.

[3] Đối với hành vi của Nguyễn Thành S1: Khi biết bị cáo Nguyễn Thành N đi gặp Nguyễn Văn H thì S1 đã can ngăn nhưng N vẫn đi. Biết không ngăn

7

được N nên S1 đã xin đi cùng với mục đích can ngăn nếu HN đánh nhau. Tuy nhiên, khi đến đầu hẻm A đường T, nhìn thấy H cầm kéo lao về phía mình và bị cáo N thì S1 có dùng chân đạp vào người H nhưng không gây thương tích cho H với mục đích để tự vệ. Khi bị Nguyễn Thị Bé N2 hất mắm ruốc vào người thì S1 đi ra chỗ khác để cởi áo; lúc này chỉ còn bị cáo N và anh H đánh nhau, việc bị cáo N dùng kéo đâm H gây thương tích là hành vi vượt quá của bị cáo N, S1 không tham gia. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Thành S1 không đồng phạm với Nguyễn Thành N về tội “Cố ý gây thương tích” trong vụ án này. Tuy nhiên, hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” của Nguyễn Thành S1 đã vi phạm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 7 của Nghị định số 144/2021/NĐ-NP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng chống bạo lực gia đình nên Cơ quan điều tra đã chuyển xử phạt vi phạm hành chính đối với S1 là có căn cứ.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Mẹ của bị cáo Nguyễn Thành N là bà Bùi Thị M đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn H số tiền 5.000.000 đồng; bị hại không có yêu cầu gì thêm; bà M cũng không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng:

[5.1] Đối với 01 cây kéo dài 23 cm, lưỡi kéo dài 12cm làm bằng kim loại màu trắng, chiều ngang thân kéo dài 2cm; cán kéo dài 11cm bọc nhựa bên ngoài là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.

[5.2] Đối với 01 xe mô tô hiệu YAMAHA NOUVO, biển số 85B1-421.97 do Nguyễn Thành S1 đứng tên chủ sở hữu. Khi Nguyễn Thành N sử dụng xe này chở Nguyễn Thành S1 đi thì S1 chỉ nghĩ là đi lên gặp Nguyễn Văn H để nói chuyện, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô trên cho S1 là có căn cứ.

[6] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T về việc định tội và định khung hình phạt; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

8

  1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành N (Tên gọi khác: R) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành N (Tên gọi khác: R) 03 (Ba) năm tù, hạn tù tính từ ngày 24/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ quy định tại các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 cây kéo dài 23 cm, lưỡi kéo dài 12cm làm bằng kim loại màu trắng, chiều ngang thân kéo dài 2cm; cán kéo dài 11cm bọc nhựa bên ngoài. Vật chứng nêu trên, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

  3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Thành N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm; có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 23-9-2024)./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ đến vụ án;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - CQĐT Công an TP. PR-TC;
  • - CQTHAHS Công an TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Hồng

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 190/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành N phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger