Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2024/HS-ST

Ngày 23-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 167/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Thành T, sinh ngày 18 tháng 12 năm 1996, tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thành N và bà Phạm Thị V; có vợ là Trần Thị N1 (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án: Có 01 tiền án tại Bản án số 74/2016/HSST ngày 12/7/2016 của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 05 tháng 20 ngày tù về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Chưa thi hành án phí và tiền sung quỹ nhà nước); tiền sự: Không; tạm giữ ngày 19/12/2023; tạm giam ngày 28/12/2023; có mặt.

  2. Phạm Văn T1, sinh ngày 09 tháng 10 năm 1981, tại Bắc Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nơi cư trú: Khu dân cư N, phường H, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N2 và bà Đỗ Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị X và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 20/12/2023; tạm giam ngày 28/12/2023; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh từ ngày 27/02/2024; có mặt.

  3. Vương Văn H, sinh ngày 04 tháng 8 năm 1992, tại Bắc Ninh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nơi cư trú: Số A A, phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Văn H1 và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Nguyễn Thị Y và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 09/11/2023; tạm giam ngày 28/12/2023; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh từ ngày 27/02/2024; có mặt.

  4. Lê Anh H2, sinh ngày 01 tháng 3 năm 1987, tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn K, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc O và bà Nguyễn Thị N3; có vợ là Nguyễn Thị Thùy D và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 20/12/2023; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/12/2023; có mặt.

  5. Nguyễn Thanh L, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1996 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con công Nguyễn Văn C1 và bà Chu Thị N4; có vợ là Hoàng Thị T2 và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 20/12/2023; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/12/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19/12/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện A nhận được tin báo tố cáo Phạm Thành T có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá, ghi số đề tại thôn T, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng. Cùng ngày Cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Thành T để làm việc, T khai nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2023, T đã tổ chức đánh bạc cho các đối tượng Phạm Văn T1, Vương Văn H bằng hình thức cá độ bóng đá trực tuyến qua mạng Internet, tổ chức đánh bạc cho Lê Anh H2 bằng hình thức cá độ bóng đá trực tiếp qua mạng xã hội zalo, tổ chức đánh bạc cho Nguyễn Thanh L bằng hình thức bán số lô, đề cho L. T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone 13 promax màu xanh và 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu vàng, T sử dụng để liên hệ, giao dịch với các đối tượng đánh bạc.

Ngày 20/12/2023, Cơ quan điều tra đã bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Văn T1, Vương Văn H, Lê Anh H2, Nguyễn Thanh L. Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn T1 tự nguyện giao nộp 01 điên thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng, Vương Văn H tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động IPhone 7 plus màu trắng hồng và khai nhận T1, H đã sử dụng 02 điện thoại này giao dịch với T lấy trang cá độ bóng đá qua mạng Internet của T để quản lý và cá độ trực tuyến kết quả các trận đấu bóng đá với T. Lê Anh H2 tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xám, khai nhận đã sử dụng điện thoại để gọi điện, nhắn tin giao dịch, cá độ bóng đá trực tiếp qua zalo với T. Nguyễn Thanh L tự nguyện giao nộp 01 điện thoại Iphone 14 Pro max màu tím, khai nhận đã sử dụng điện thoại để nhắn tin giao dịch ghi số lô, đề của T.

Kết quả kiểm tra điện thoại Iphone 14 promax màu vàng của T, xác định T có giao cho Phạm Văn T1 01 trang cá độ bóng đá mã KF4P1444044, vào trang web có nội dung TT1 đã đặt cược thắng thua bằng tiền với nhau về kết quả của 52 trận bóng đá; T giao cho Vương Văn H 01 trang bóng đá mã KF4P1444003, vào trang web có tin nhắn giữa TH đã đặt cược thắng thua bằng tiền với nhau về kết quả của 01 trận bóng đá. Kiểm tra điện thoại của Nguyễn Thanh L có nhiều tin nhắn Messenger giữa LT có nội dung ghi số lô, đề, nhiều giao dịch chuyển khoản qua ngân hàng giữa LT. Kiểm tra điện thoại của Lê Anh H2 có nhiều tin nhắn qua mạng xã hội Facebook giữa H2T nội dung liên quan đến cá độ bóng đá, nhiều giao dịch chuyền khoản qua ngân hàng. Kiểm tra điện thoại của Vương Văn H có nhiều tin nhắn qua Zalo liên quan đến cá độ bóng đá thắng thua bằng tiền.

Kết quả sao kê ngân hàng xác định: Có việc chuyển khoản tiền giữa tài khoản ngân hàng M2 số 0905134566789 của Phạm Văn T1, tài khoản ngân hàng V1 số [...] của Vương Văn H, tài khoản ngân hàng M2 số 2600101031987 của Lê Anh H2, tài khoản ngân hàng T5 số 19037168726017 và tài khoản ngân hàng V2 số 0031000359891 của Nguyễn Thanh L với tài khoản ngân hàng M2 số 0704116666 của Phạm Thành T.

Kết quả trưng cầu giám định đối với các điện thoại di động đã thu giữ tại Kết luận giám định số 819/KL-KTHS ngày 25/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận trong dữ liệu điện thoại di động của Phạm Thành T, Vương Văn H, Phạm Văn T1, Nguyễn Thanh L, Lê Anh H2 có nhiều cuộc gọi, tin nhắn Messages, Facebook, Z, dữ liệu trình duyệt S có nhiều nội dung liên quan đến cá độ bóng đá, ghi sô lô, đề, chuyển khoản tiền cá độ bóng đá, lô, đề qua ngân hàng.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, xác định hành vi phạm tội của Phạm Thành T, Phạm Văn T1, Vương Văn H, Lê Anh H2, Nguyễn Thanh L như sau:

Cuối năm 2022, thông qua mạng xã hội Facebook, Phạm Thành Trung liên H3 với Đ1 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) để nhận một tài khoản cá độ bóng đá tên "KF4P1444" trên nền tảng mạng internet trong các website "cacuoc789", ?, "nhacai789" về chia nhỏ thành nhiều tài khoản để giao cho khách cá độ bóng đá, hưởng phần trăm hoa hồng. Đ1T thoả thuận T giao cho khách 1 điểm trong tài khoản là 50.000 đồng, T trả cho Đ1 10.000 đồng/1 điểm, giữ lại 40.000 đồng/1 điểm để trực tiếp thắng thua với khách. Trong tài khoản "KF4P1444", Đ1 để sẵn 50.000 điểm tương ứng với 500.000.000 đồng để T chia cho các tài khoản nhỏ. Sau khi nhận tài khoản "KF4P1444" từ Đ1, T sử dụng điện thoại di động có kết nối mạng internet chia nhỏ thành 03 tài khoản nhỏ, gồm: tài khoản "KF4P1444003" có 400 điểm, tài khoản "KF4P1444044" có 200 điểm, tài khoản "KF4P1444000" không có điêm đê giao dịch nhận kèo cá độ bóng đá trực tuyến. Ngoài ra, vào khoảng tháng 8 năm 2023, qua mạng xã hội Facebook, Phạm Thành Trung liên H3 với người tên L (chưa xác định nhân thân, lai lịch) để bán thuê số lô, đề cho L. LT thoa thuận khi có khách mua số đề thì T được hưởng 18%, lô được hưởng 5%, xiên được hưởng 22%. Kết quả trúng số đề, số lô dựa trên kết quả xổ số miền Bắc hàng ngày, trúng đề là trúng hai số cuối của giải đặc biệt, trúng lô là trúng hai số cuối của các dãy số trong các giải. Tỷ lệ trúng số đề được 80 lần, lô được 3,4 lần, xiên được 14 lần. Sau khi thoả thuận được với Đ1L, T sử dụng điện thoại, liên hệ với nhiều người Trung quen biết để giới thiệu việc T có cung cấp các trang cá độ bóng đá trực tuyến, ghi số lô, đề để người nào có nhu cầu đánh bạc bằng các hình thức này thì liên hệ với T.

Khoảng tháng 9/2022, T sử dụng điện thoại di động liên hệ với Vương Văn H, biết H có nhu cầu cá độ bóng đá qua mạng Internet, T đã cung cấp cho H trang web có tài khoản "KF4P1444003", mật khẩu là "Qqqq1111" có 400 điểm, T quy định khi cá độ mỗi điểm tương ứng với 50.000 đồng, tăng hơn 40.000 đồng để H cùng cá độ bóng đá với T. TH đã cá độ bóng đá với nhau bằng tài khoản trên qua mạng Internet nhiều lần. Kết quả kiểm tra điện thoại của T xác định: Ngày 24/9/2023, H sử dụng điện thoại di động có kết nối Internet đăng nhập vào tài khoản "KF4P1444003" cá cược trận đấu giữa đội B1 và đội N6, đội N5 chấp ½ quả trực tuyến trên mạng Internet. H chọn đánh Napoli 200 điểm, tương ứng với số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi cá độ bóng đá trên trang web "KF4P1444003", H sử dụng điện thoại di động trực tiếp nhắn tin với T qua zalo để cá độ bóng đá về kết quả trận đấu giữa đội B1 và đội N6. H chọn Bologna được chấp »/ quả, cược 10.000.000 đồng. Đối chiếu với kết quả trận đấu, H thắng được 5.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu Bologna hòa N7 tỉ số 0 - 0 nên Vương Văn H thua trên web số tiền 10.000.000 đồng, thắng T qua cá độ tại zalo số tiền 5.000.000 đồng. Xác định H thua T số tiền 5.000.000 đồng. H đã chuyển khoản qua ngân hàng cho T số tiền 5.000.000 đồng. Tổng số tiền Vương Văn H dùng đánh bạc với T ngày 24/9/2023 là 25.000.000 đồng.

Khoảng tháng 8/2023, Phạm Thành T cung cấp trang web có tài khoản "KF4P1444044", mật khẩu "Aaaa9999" có 200 điểm cho Phạm Văn T1 đề T1 cùng cá độ bóng đá với T trên mạng Internet. T quy định khi cá độ mỗi điểm tương ứng với 50.000 đồng. TT1 đã cá độ bóng đá với nhau bằng tài khoản "KF4P1444044" qua mạng Internet nhiều lần. Kết quả kiểm tra điện thoại của T xác định: Ngày 17/12/2023, T1 sử dụng điện thoại di động có kết nối internet đăng nhập vào tài khoản "KF4P1444044" để cá cược 19 trận đấu bóng đá trên mạng Internet với T, tổng số tiền đặt cược là 59.550.000 đồng. Trong đó có 03 trận đấu có số tiền cá độ từ 5.000.000 đồng trở lên, gồm: Trận Bayern M - S1 với số tiền 8.488.000 đồng (đánh 06 kèo), T1 thua 2.382.500 đồng; Trận Bayer 04 L - E với số tiền 6.558.000 đồng (đánh 06 kèo), T1 thua 992.000 đồng; Trận B - Aston Villa với số tiền 9.586.000 đồng (có 04 kèo), T1 thắng 2.876.000 đồng. Trong 19 trận đấu bóng đá nêu trên T6 thắng 15.500.000đồng và thua 20.444.500 đồng, tổng số tiền T thua ở 19 trận đấu bóng là 4.944.500 đồng. Số tiền thắng thua TT1 đã thanh toán với nhau xong.

Phạm Thành T cá độ bóng đá trực tiếp cùng Lê Anh H2, cụ thể như sau: Ngày 16/9/2023, H2 sử dụng điện thoại gọi rủ T cùng cá độ bóng đá trực tiếp trận MU - B2, T đồng ý. H2T thoả thuận: kèo MU chấp 1,5 quả, tỷ lệ 1:90, H2 chọn M3 và cược 30.000.000 đồng. Nếu kết quả trận đấu M3 thắng tỉ số cách từ 2 bàn trở lên thì H2 được 30.000.000 đồng, nếu MU thắng tỉ số cách biệt 1 bàn, hòa hoặc thua thì H2 thua 27.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu, MU thua B2 với tỷ số 1-3, H2 thua số tiền 27.000.000 đồng, đã chuyển khoản qua ngân hàng cho T số tiền H2 thua.

Ngày 06/10/2023, H2 gọi điện cá độ bóng đá với T trận MU - M3, thỏả thuận kèo MU chấp 0,5 quả, tỷ lệ 1:90, H2 chọn M3 và cược 20.000.000 đồng. Nếu kết quả trận đấu MU thắng thì H2 được 18.000.000 đồng, MU hòa hoặc thua thì H2 thua 20.000.000 đồng. Kết thúc trận đấu, MU thắng M3 với tỷ số 2-1, H2 thắng số tiền là 18.000.000 đồng. T đã chuyển khoản số tiền cho H2 qua ngân hàng. Tổng số tiền H2 dùng đánh bạc ngày 16/9/2023 là 30.000.000 đồng; ngày 16/10/2023 là 38.000.000 đồng.

Do có quan hệ bạn bè Nguyễn Thanh L biết Phạm Thành T có tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, đề. Từ ngày 01/8/2023 đến ngày 14/11/2023, L đã nhắn tin thông qua ứng dụng Messenger để ghi số lô, đề của T, tổng 42 lần với tổng số tiền là 138.400.000 đồng, L thua 23.000.000 đồng. Sau khi đối chiếu với kết quả xổ số miền B, xác định có 05 lần L sử dụng số tiền trên 5.000.000 đồng để đánh bạc, cụ thể: Ngày 03/8/2023, L ghi số lô 38 bằng 1.000.000 đồng, xiên đôi: 38-76 bằng 500.000 đồng, tổng 1.500.000 đồng, trúng 3.500.000 đồng. Ngày 28/8/2023, L ghi số lô 82 bằng 1.000.000đ, đề đầu 8 bằng 1.000.000 đồng (mỗi số 100.000 đồng), tổng 2.000.000 đồng, trúng 8.000.000 đồng. Ngày 30/8/2023, L ghi số lô 59 bằng 1.000.000 đồng, đề đầu 5 bằng 2.800.000 đồng (mỗi số 280.000 đồng), tổng 3.800.000 đồng, trúng 22.400.000 đồng. Ngày 05/10/2023, L ghi số lô 33 bằng 1.000.000 đồng, xiên đôi: 33-26 bằng 500.000 đồng, đề 33 bằng 100.000 đồng, tổng 1.600.000 đồng, trúng 11.400.000 đồng. Ngày 14/10/2023, L ghi số đề đầu 5 bằng 1.000.000 đồng (mỗi số 100.000 đồng), trúng 8.000.000 đồng. Trong 42 lần L ghi số lô, đề với T, L đã thua và chuyển khoản cho T qua ngân hàng số tiền 25.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 183/CT-VKSAD ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm Thành T về các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 và điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Vương Văn H, Phạm Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lê Anh H2, Nguyễn Thanh L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo Phạm Thành T, Vương Văn H, Phạm Văn T1, Lê Anh H2Nguyễn Thanh L khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Các bị cáo rất hối hận về việc làm của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thành T phạm các tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Phạm Văn T1, Vương Văn H, Lê Anh H2Nguyễn Thanh L đồng phạm tội “Đánh Bạc”.

- Về hình phạt:

  • Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thành T từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù và phạt tiền bổ sung 20.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”; Xử phạt bị cáo Phạm Thành T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù và phạt tiền bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Phạm Thành T chấp hành hình phạt tù là 09 năm đến 10 năm tù và tổng hợp hình phạt bổ sung từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng để thu vào ngân sách Nhà nước.

  • Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 từ 39 tháng đến 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

  • Áp dụng điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58 và 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Văn H 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo H cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Phạt tiền bổ sung các bị cáo Phạm Văn T1Vương Văn H mỗi bị cáo 10.000.000 đồng để thu vào ngân sách Nhà nước.

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 35 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Anh H2Nguyễn Thanh L:

Xử phạt tiền bị cáo Lê Anh H2 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng để thu vào ngân sách Nhà nước.

Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Thanh L từ 50.000.0000 đồng đến 60.0000.0000 đồng để thu vào ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng và truy thu số tiền phạm tội: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13 promax màu xanh và 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu vàng của T, 01 điên thoại di động nhãn hiệu lphone XS màu vàng của T1, 01 điện thoại di động IPhone 7 plus màu trắng hồng của H, 01 điện thoại Iphone 14 Pro max màu tím của L và 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xám của H2. Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền thu lợi từ hành vi phạm tội 23.894.000đồng.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với các kết luận giám định, phù hợp với kết quả sao kê của các Ngân hàng cung cấp, phù hợp với tài liệu trích xuất dữ liệu điện thoại, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận:

[2.1] Từ cuối năm 2022, Phạm Thành T nhận và quản lý tài khoản tổng có tên đăng nhập "KF4P1444", có 50.000 điểm, với mức 10.000 đồng/điểm, tương ứng với 500.000.000 đồng, mục đích tổ chức đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá. Từ tài khoản tổng nói trên, T đã chia thành 03 tài khoản khác nhau, đã giao thành công 02 tài khoản, gồm: "KF4P1444003" cho Vương Văn H và "KF4P1444044" cho Phạm Văn T1, còn 01 tài khoản "KF4P1444000" không có điểm dùng để báo kèo cho khách có nhu cầu. Vào các ngày 24/9/2023 và 17/12/2023, Phạm Thành T tổ chức đánh bạc trên 02 tài khoản"KF4P1444003" và "KF4P1444044" của HT1 với tổng số 20 trận đấu bóng có cá độ ăn thua với nhau bằng điểm số sau đó được quy đổi thành tiền Việt Nam, tổng số tiền T tổ chức cho HT1 đặt cược ở hai tài khoản này tương ứng là 69.550.000 đồng (trong đó số tiền đặt cược của T1 là 59.550.000 đồng và số tiền đặt cược của H là 10.000.000đồng), trong 20 trận bóng đá cá cược có 04 trận trên 5.000.000 đồng. Ngoài ra T còn trực tiếp đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với H 01 trận bằng tin nhắn điện thoại (đặt kèo thứ 2 trong cùng một trận bóng ngày 24/9/2023) với số tiền cá cược là 15.000.000 đồng. Số tiền Trung thu lợi bất chính từ việc cá cược với H trong cùng một trận bóng ngày 24/9/2023 là 3.000.000 đồng; T đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với T1 19 trận, với tổng số tiền là 47.640.000 đồng, trong đó có 03 trận T sử dụng số tiền trên 5.000.000 đồng để đánh bạc, thu lợi bất chính số tiền 2.984.000 đồng; T đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá với H2 02 trận trên 5.000.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc là 68.000.000 đồng, thu lợi bất chính 9.000.000 đồng. Ngoài ra, T còn tổ chức đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thanh L 42 lần, trong đó có 04 lần trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng, 01 lần vào ngày 30/8/2023 với số tiền là 22.400.000.000 đồng, thu lợi bất chính 8.910.000 đồng.

[2.2] Vương Văn H sử dụng số tiền 25.000.000 đồng đánh bạc cá độ bóng đá trực tuyến trên mạng Internet với Phạm Thành T 01 lần, thua 5.000.000 đồng; Phạm Văn T1 sử dụng số tiền 59.550.000 đồng cá độ bóng đá trực tuyến trên mạng Internet với Phạm Thành T 19 lần, trong đó có 03 lần sử dụng số tiền để đánh bạc trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng, thua số tiền 3.730.000 đồng; Lê Anh H2 nhắn tin zalo sử dụng số tiền 68.000.000 đồng, trực tiếp cá độ bóng đá 02 lần với Phạm Thành T đều trên 20.000.000 đồng, thua 9.000.000 đồng; Nguyễn Thanh L sử dụng số tiền 138.400.000 đồng đánh lô, đề, trong đó có 05 lần trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng, thua 25.000.000 đồng.

[2.3] Hành vi cấp tài khoản để cá độ bóng đá qua mạng Internet của T cho T1H ăn thua với nhau bằng tiền và hành vi bán số lô, đề của T cho L để hưởng hoa hồng bằng tiền của bị cáo Phạm Thành T đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Hành vi cá độ bóng đã qua mạng xã hội Zalo, Messger của T với HH2 ăn thua với nhau bằng tiền do bị cáo Phạm Thành T thực hiện đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[2.4] Hành vi cá độ bóng đá ăn thua bằng tiền qua mạng Internet của các bị cáo Vương Văn HPhạm Văn T1 đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[2.5] Hành vi sử dụng mạng xã hội Zalo để cá độ bóng đá ăn thua bằng tiền của Lê Anh H2 với tổng số tiền ở hai lần cá độ là 68.000.000 đồng, tuy nhiên mỗi lần cá độ số tiền đều dưới 50.000.000 đồng và hành vi mua số lô, đề của bị cáo Nguyễn Thanh L với tổng số tiền ở 42 lần là 138.400.000 đồng tuy nhiên có 05 lần trên 5.000.000đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng nên đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[3] Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, đánh bạc là một trong những nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác nên cần phải xử lý thỏa đáng đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Phạm Thành T có vai trò cao nhất vì bị cáo là người tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc, cùng một lúc bị cáo phạm hai tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án. Các bị cáo Phạm Văn T1, Vương Văn H, Lê Anh H2Nguyễn Thanh L là những người trực tiếp tham gia đánh bạc, các bị cáo này không bàn bạc với nhau về việc phạm tội nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập với hành vi đánh bạc của mình.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt:

[5.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo T đầu thú, bị cáo T1 có bố đẻ được tặng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng ba, bị cáo H có bố mẹ được tặng Bằng khen, giấy khen trong công tác, bị cáo H2 có bố được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bị cáo L có bố và mẹ được tặng huy chương chiến sĩ vẻ vang nên các bị cáo T, T1, H, H2L đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T có một tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo T thuộc trường hợp “Tái phạm” và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T, bị cáo T1, bị cáo L và bị cáo H2 đánh bạc từ hai lần trở lên và đều trên 5.000.000 đồng nên các bị cáo T, T1, L, H2 đều phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vương Văn H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5.3] Về vài trò và hình phạt: Bị cáo T là người tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc và cũng là người trực tiếp đánh bạc với các bị cáo khác nên đánh giá vai trò của bị cáo Trung cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo T1, bị cáo H, bị cáo H2 và bị cáo L là những người đánh bạc không bàn bạc với nhau nên phải chịu trách nhiệm hình sự riêng tương xứng với hành vi phạm tội của mình. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo T và bị cáo T1 nên áp dụng hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian đối với các bị cáo TT1. Bị cáo H có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo H được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo H2 và bị cáo L đều phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, điều luật có quy định về hình phạt tiền, các bị cáo có điều kiện về kinh tế nên áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo H2 và bị cáo L. Xét tính chất, hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình các bị cáo nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo T, T1H như đề nghị của Kiểm sát viên; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H2 và bị cáo L.

[6] Về xử lý vật chứng và truy thu số tiền thu lợi từ việc phạm tội: Đối với 01 điện thoại di động Iphone 13 promax màu xanh và 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu vàng của T, 01 điên thoại di động nhãn hiệu lphone XS màu vàng của T1, 01 điện thoại di động IPhone 7 plus màu trắng hồng của H, 01 điện thoại Iphone 14 Pro max màu tím của L và 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xám của H2 đều là phương tiện các bị cáo dùng để phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo Trung thu lợi từ việc phạm tội với tổng số tiền là 23.894.000đồng nên căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi từ việc phạm tội.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật; các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8] Đối tượng Đ1 và đối tượng L là người cung cấp trang cá độ bóng đá cho T, là người thuê T ghi số đề, số lô và đối thượng M1 là người lấy trang KF4P1444001 (là trang cũ của Nguyễn Hoàng T3 nhận từ T) từ tháng 10/2023 để đánh bạc bằng hình thức cá độ bóng đá, do chưa các định được thông tin lai lịch của các đối tượng này nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục xác minh là rõ, xử lý sau. Đối tượng Nguyễn Hoàng T3, sinh năm 1989, trú tại thôn K, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng là người lấy trang ký hiệu KF4P1444001 có 400 điểm (50.000đồng/điểm), tương ứng 20.000.000đồng của Phạm Thành T từ tháng 6/2023, tài liệu điều tra chỉ có lời khai của đối tượng và T ngoài ra không còn tài liệu nào khác để có căn cứ khởi tố đối tượng về hành vi đánh bạc, Cơ quan điều tra trách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thành T.

Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T1.

Căn cứ điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58 và 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vương Văn H.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; các điều 17, 35 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Anh H2 và bị cáo Nguyễn Thanh L.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thành T phạm tội “Đánh bạc” và tội “Tổ chức đánh bạc”.

Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T1, Vương Văn H, Lê Anh H2Nguyễn Thanh L phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Thành T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù, phạt bổ sung số tiền 15.000.000đồng về tội “Đánh bạc” và xử phạt bị cáo Phạm Thành T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc".

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Thành T chấp hành hình phạt tù là 09 (C2) năm tù và tổng hợp số tiền phạt là 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng) để thu vào ngân sách nhà nước.

Buộc bị cáo Phạm Thành T phải nộp lại số tiền 23.894.000đồng. Thời hạn tù của bị cáo Nguyễn Thành Trung T4 từ ngày 19/12/2023.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 39 (Ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Phạm Văn T1 tính từ ngày bắt thi hành án, bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 20/12/2023 đến ngày 27/02/2024) vào thời gian chấp hành hình phạt tù. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn T1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để thu vào ngân sách nhà nước.

Xử phạt bị cáo Vương Văn H 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án. Phạt bổ sung bị cáo Vương Văn H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để thu vào ngân sách nhà nước.

Giao bị cáo Vương Văn H cho Ủy ban nhân dân phường A, thị xã K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

  • Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

  • Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

  • Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

  • Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Xử phạt bị cáo Lê Anh H2 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để thu vào ngân sách nhà nước. Được trừ vào số tiền 50.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0008437 ngày 23/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) để thu vào ngân sách nhà nước. Được trừ vào số tiền 60.000.000 đồng bị cáo đã nộp tại các Biên lai thu tiền số 0008434, số 0008442 ngày 23/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh đối với bị cáo Vương Văn H và hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Lê Anh H2 và bị cáo Nguyễn Thanh L.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13 promax màu xanh, 01 điện thoại di động Iphone 14 promax màu vàng, 01 điên thoại di động nhãn hiệu lphone XS màu vàng, 01 điện thoại di động IPhone 7 plus màu trắng hồng, 01 điện thoại Iphone 14 Pro max màu tím và 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xám (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 buộc bị cáo Phạm Thành T, Phạm Văn T1, Vương Văn H, Lê Anh H2Nguyễn Thanh L mỗi bị cáo phảii chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương;
  • - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng;
  • - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp T.P Hải Phòng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc

  • Số bản án: 190/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thành Trung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger