Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 190/2025/HS-ST

Ngày: 03-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Việt Cường

Bà Hoàng Thị Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hà Trọng Lam – Kiểm sát viên

Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 165/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Đình L

sinh năm 1991 tại Thanh Hóa; Số CCCD: [...]; Nơi thường trú: Lô C, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đình H và bà Nguyễn Thị L1 (đã chết); Vợ, con: chưa; Tiền án; Ngày 09/01/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 26 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2023); Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 21/7/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/11/2024 đến ngày 05/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T – Phân trại tạm giam khu vực Y, tỉnh Thanh Hóa. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút, ngày 29/11/2024, Tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố T phối hợp cùng Công an phường Q kiểm tra phòng 303 Nhà nghỉ T, ở đường N, phường Q, thành phố T. Khi thấy Công an vào kiểm tra, Lê Đình L đã tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc giao nộp cho Tổ công tác 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng (5 x 8)cm, bên trong chứa 09 viên nén hình tròn màu đỏ và khai nhận đó là 09 viên ma túy hồng phiến của L cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời. Về nguồn gốc ma túy, L khai trước đó liên hệ qua mạng Telegram để gặp một người đàn ông (L không biết nhân thân, lai lịch) sau đó hẹn gặp nhau tại khu vực gần Công ty B, ở phố D, phường P, thành phố T đề mua của người này 09 viên ma túy hồng phiến, với giá 540.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L cất giấu trong người rồi mang về phòng 303 Nhà nghỉ T, ở đường N, phường Q, thành phố T với mục đích để bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an kiểm tra nên L đã tự giác giao nộp.

Tổ công tác đã đưa L cùng tang vật về trụ sở Công an phường Quảng Thắng, thành phố T lập biên bản phạm tội quả tang. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T khám xét khẩn cấp nơi ở của L tại Lô C MBQH A, phường Đ, thành phố T nhưng không thu được gì.

Tại Kết luận giám định số 4605/KL-KTHS ngày 04/12/2024 Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 09 viên nén hình tròn màu đỏ của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,875gam, loại Methamphetamine.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho L nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xử lý. Đối với chiếc điện thoại dùng để liên hệ mua ma túy, L khai đã bán cho một cửa hàng điện thoại trên đường N nhưng L không nhớ địa chỉ nên cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại bản cáo trạng số 101/CT-VKSTPTH ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá truy tố bị cáo Lê Đình L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và vật chứng.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở chứng minh: Hồi 14 giờ 00 phút, ngày 29/11/2024, tại phòng 303 Nhà nghỉ T, ở đường N, phường Q, thành phố T bị cáo Lê Đình L đã có hành vi mua 09 viên ma túy có tổng khối lượng 0,875gam, loại Methamphetamine cất giấu nhằm mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt giữ.

Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luật: Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Đình L có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội.

[3] Tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Bản thân bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật nên bị cáo đã mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an chung cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Nhân thân, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị các cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Với tính chất nghiêm trọng của loại tội phạm về ma túy, mức độ và hành vi phạm tội thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung đối với bị cáo quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 09/01/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xử phạt 26 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2023, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên khi áp dụng hình phạt cần căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Mặc dù bị cáo bán ma túy với mục đích kiếm lời nhưng do bị cáo không có công việc và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy thu của bị cáo còn lại sau giám định được niêm phong bằng phong bì của Phòng K Công an tỉnh T là vật Nhà nước cấm lưu hành, sử dụng nên căn cứ khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố:

Bị cáo Lê Đình L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Xử phạt:

Bị cáo Lê Đình L 39 (ba chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày 29/11/2024.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T có hình dấu của Phòng K kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ, Lê Thị Thanh L2 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 84/2025/THA ngày 24/02/2025.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm

Bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Thanh Hóa;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Văn phòng Cảnh sát điều tra CA T.Thanh Hóa;
  • - Chi cục thi hành án dân sự TP.Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 190/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger