trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2024/DS-ST

Ngày: 13 - 12 - 2024

V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thuận

Ông Trương Văn Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kiến Hòa - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 197/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 397/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 374/2024/QĐST-DS, ngày 25 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty T3 JACCS, gọi tắt là " JIVF";
    Địa chỉ trụ sở: lầu 05, tòa nhà C, 72-74, Nguyễn Minh K, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo pháp luật: Ông T - Tổng Giám đốc.
    Người đại diện theo ủy quyền của Tổng giám đốc: Bà Trần Việt N - Phó bộ phận quản lý công nợ.
    Đại diện theo ủy quyền của bà Trần Việt N: Ông Lương Tâm N1, sinh năm 1986, nhân viên JIVF.
    Địa chỉ: lầu E, tòa nhà C, 72-74, Nguyễn Minh K, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn: Bà Lê Thị Bé T1, sinh năm 1983.
    Địa chỉ ĐKTT: số B, ấp H, L, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.
    Địa chỉ tạm trú: số F, ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa ông N1 và bà T1 đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án ông Lương T2 N1 là đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng trình bày:

Ngày 19/6/2023 bà Lê Thị Bé T1 đã ký với Công ty T3 JACCS, gọi tắt là " JIVF” Hợp đồng tín dụng số 930090004259855000 ngày 19/6/2023, để vay số tiền là 20.000.000 đồng. Hai bên thoả thuận lãi suất là 4,35%/ tháng, thời hạn vay là 24 tháng, mục đích vay để bà T1 sửa chữa nhà ở. Thực hiện theo hợp đồng JIVF đã giải ngân số tiền trên theo thỏa thuận của Hợp đồng và bà Bé T1 đã nhận đủ số tiền 20.000.000 đồng. Theo như thỏa thuận trong hợp đồng bà Bé T1 phải thanh toán bao gồm tiền gốc, tiền lãi và phí trong vòng 24 tháng, mỗi tháng bà T1 phải thanh toán số tiền là 1.359.161 đồng vào trước hoặc đúng ngày 22 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng, ngày thanh toán bắt đầu ngày 24/7/2023.

Từ ngày 24/7/2023 đến ngày 22/12/2023 bà T1 thanh toán cho JIVF được số tiền là 6.863.732 đồng. Trong đó: nợ gốc là 2.595.256 đồng, lãi trong hạn là 4.200.628 đồng, lãi quá hạn là 7.488 đồng, phí 60.000 đồng. Tuy nhiên sau ngày 22/12/2023, đến ngày 22/3/2024 bà T1 cố tình tránh né, không thực hiện theo như Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết. Do vậy, bà T1 đã vi phạm hợp đồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của JIVF. Từ đó, Công ty T3 JACCS khởi kiện bà Lê Thị Bé T1 yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Lê Thị Bé T1 phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho JIVF với tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/3/2024 là 20.599.029 đồng. Trong đó: nợ gốc là 17.404.744 đồng, nợ lãi trong hạn là 3.019.355 đồng, nợ lãi quá hạn là 114.930 đồng. Đồng thời yêu cầu bà Lê Thị Bé T1 tiếp tục phải thanh toán cho JIVF, tiền lãi, lãi quá hạn và phí từ sau ngày 22/3/2024 cho đến khi hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại quy định tại hợp đồng tín dụng số 930090004259855000 đã ký ngày 19/6/2023.

Tính đến ngày 13/12/2024, bà Bé T1 còn nợ JIVF tổng số tiền là 30.001.643 đồng. Trong đó: nợ gốc là 17.404.744 đồng, lãi trong hạn 9.640.406 đồng, lãi quá hạn là 2.800.493 đồng, phí 156.000 đồng. Do vậy, JIVF có yêu cầu: Bà Lê Thị Bé T1 có nghĩa vụ trả cho Công ty T3 JACCS số tiền tính đến ngày 13/12/2024 là 30.001.643 đồng. Trong đó: nợ gốc 17.404.744 đồng, lãi trong hạn 9.640.406 đồng, lãi quá hạn 2.800.493 đồng, phí 156.000 đồng. Đồng thời yêu cầu bà Lê Thị Bé T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T3 JACCS khoản lãi phát sinh từ ngày 14/12/2024 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 930090004259855000 ký ngày 19/6/2023.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn Lê Thị Bé T1 vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm nhân dân huyện G phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật và chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng đúng theo quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Bị đơn bà Lê Thị Bé T1 không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng không tham gia phiên tòa. Như vậy, bà T1 không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

- Ý kến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T3 JACCS.
  • Buộc bà Lê Thị Bé T1 có nghĩa vụ trả cho Công ty T3 JACCS số tiền tính đến ngày 13/12/2024 là 30.001.643 đồng. Trong đó: nợ gốc 17.404.744 đồng, lãi trong hạn 9.640.406 đồng, lãi quá hạn 2.800.493 đồng, phí 156.000 đồng.
  • Buộc bà Lê Thị Bé T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T3 JACCS khoản lãi phát sinh từ ngày 14 tháng 12 năm 2024 cho đến khi tất nợ theo Hợp đồng tín dụng số 930090004259855000 ký ngày 19/6/2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Công ty T3 JACCS, gọi tắt là "JIVF" khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Bé T1 có nghĩa vụ trả nợ vay. Do đó, xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Tuy nhiên, mục đích của bên vay tiền của bị đơn là để sửa chữa nhà ở, nên đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bà Lê Thị Bé T1 là bị đơn có địa chỉ ĐKTT: số B, ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre. Địa chỉ tạm trú: số F, ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Ông Lương Tâm N1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tham gia tố tụng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, đối với bị đơn là bà Lê Thị Bé T1 mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Về nội dung:

[2.1] Công ty T3 JACCS, gọi tắt là "JIVF"; khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Bé T1 có nghĩa vụ trả nợ vay số tiền tính đến 13/12/2024 là 30.001.643 đồng. Trong đó: nợ gốc là 17.404.744 đồng, lãi trong hạn 9.640.406 đồng, lãi quá hạn 2.800.493 đồng, phí 156.000 đồng, đồng thời yêu cầu tính khoản lãi phát sinh từ ngày 14/12/2024 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 930090004259855000 ký ngày 19/6/2023.

[2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, sau khi thụ lý vụ án bị đơn là bà Lê Thị Bé T1 đã được Tòa án thông báo hợp lệ về các phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị đơn bà T1 vẫn vắng mặt không có lý do, không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ giải quyết vụ án theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2.3] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Hợp đồng tín dụng số 930090004259855000 ký kết dưới dạng điện tử ngày 19/6/2023, Công ty T3 JACCS cho bà T1 vay số tiền 20.000.000 đồng, thời hạn vay 24 tháng, hình thức thanh toán mỗi tháng trả 1.359.161 đồng, ngày đến hạn trả nợ kỳ đầu tiên trả nợ là 24/7/2023, ngày đến hạn trả nợ kỳ cuối là 23/6/2025, lãi suất 4,35%/tháng theo dư nợ giảm dần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, mục đích vay sửa chữa nhà ở.

Hợp đồng tín dụng số 930090004259855000 giữa JIVF và bà T1 được ký kết vào ngày 19/6/2023 là trên cơ sở tự nguyện, có hình thức và nội dung phù hợp quy định pháp luật nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết. Theo chi tiết lệnh thanh toán thể hiện Công ty T3 JACCS chuyển khoản số tài khoản 101110100 – Lê Thị Bé T1 số tiền 20.000.000 đồng từ JIVF.

Quá trình thực hiện hợp đồng vay JIVF có cung cấp lịch sử thanh toán chi tiết từ ngày 24/7/2023 đến ngày 22/12/2023, bà T1 thanh toán cho JIVF số tiền 6.863.372 đồng. Trong đó: nợ gốc 2.595.256 đồng, lãi trong hạn 4.200.628 đồng, lãi quá hạn 7.488 đồng, phí 60.000 đồng. Từ sau ngày 22/12/2023 đến nay, bà Bé T1 không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho JIVF.

Về thời hạn cho vay đến ngày 23/6/2025 mới hết hạn hợp đồng, tuy nhiên từ sau ngày 22/12/2023 đến nay bà T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T3 JACCS theo thỏa thuận đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi nên JIVF chấm dứt hợp đồng vay, yêu cầu bà T1 thanh toán cho JIVF số tiền nợ tính đến ngày 13/12/2024 là 30.001.643 đồng. Trong đó: nợ gốc 17.404.744 đồng, lãi trong hạn 9.640.406 đồng, lãi quá hạn 2.800.493 đồng, phí 156.000 đồng, đồng thời yêu cầu bà Bé T1 còn phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán cho JIVF tiền lãi phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, phí từ ngày 14/12/2024 cho đến khi hết nợ theo Hợp đồng tín dụng số 930090004259855000 ký ngày 19/6/2023 là cơ sở sở nên chấp nhận.

[3] Phát biểu của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và ý kiến đề nghị về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn bà T1 phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền phải trả cho nguyên đơn là 30.001.643 x 5% = 1.500.082 đồng. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự; các Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T3 JACCS.
    • - Buộc bà Lê Thị Bé T1 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty T3 JACCS số tiền tính đến ngày 13 tháng 12 năm 2024 là 30.001.643 đồng (ba mươi triệu, không trăm lẻ một nghìn, sáu trăm bốn mươi ba đồng). Trong đó: nợ gốc 17.404.744 đồng, lãi trong hạn 9.640.406 đồng, lãi quá hạn 2.800.493 đồng, phí 156.000 đồng.
    • - Buộc bà Lê Thị Bé T1 phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T3 JACCS khoản lãi phát sinh từ ngày 14 tháng 12 năm 2024 cho đến khi tất nợ theo các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 930090004259855000 ký ngày 19/6/2023.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bị đơn bà Lê Thị Bé T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch với số tiền là 1.500.082 đồng (một triệu, năm trăm nghìn, lẻ tám mươi hai đồng) và còn phải nộp số tiền này.
    • - Công ty T3 JACCS được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 514.000 đồng (năm trăm mười bốn nghìn đồng) theo biên lại nộp tiền tạm ứng án phí lệ phí số 0004992, ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm.
  3. Về quyền kháng cáo: các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
  4. Quyền về yêu cầu thi hành án: trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THADS huyện G;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/DS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 190/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger