Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 190/2024/DS- PT

Ngày: 12/9/2024

V/v: “Tranh chấp Hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng

đất và tài sản gắn liền với đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng

Các thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang, bà Triệu Thị Luyện.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phên tòa:

Ông Lương Thất Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 12/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2024/TLPT- DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Toà án nhân dân huyện huyện Việt Yên (nay là thị xã V) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 128/2024/QĐ-PT ngày 09/5/2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa. Quyết định tạm ngừng phiên tòa giữa:

  • * Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim Q2, sinh năm 1981 (có mặt).

  • Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  • * Bị đơn: Anh Giáp Hoàng A, sinh năm 2001 (vắng mặt)

  • Địa chỉ: Thôn M, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

  • Người đại diện theo ủy quyền của anh A: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976 (có mặt)

  • Địa chỉ: Thôn M, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang

  • * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Q2: Luật sư Đặng Văn T1 - Văn phòng L2 - Đoàn luật sư tỉnh B (có mặt)

  • Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Nguyễn Hoàng K, sinh năm 1979 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông K: Bà Nguyễn Kim Q2, sinh năm 1981 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1972 (có mặt)

  2. Bà Chu Thị N, sinh năm 1971 (vắng mặt)

  3. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992 (vắng mặt)

  4. Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Đều có địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà N, anh T2, chị D: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1972 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã H, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  1. Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3) do ông Giáp Văn C- Công chứng viên đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

Địa chỉ: Số E, đường T, thị trấn B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  1. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã V do bà Nguyễn Tuyết C1- Giám đốc Chi nhánh đại diện theo pháp luật (có đơn xin xét xử vắng mặt).

  2. UBND phường T, huyện V do ông Chu Hồng P- Chủ tịch phương đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

  3. UBND thị xã V, tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Đại L- Chủ tịch thị xã đại diện theo pháp luật (vắng mặt).

  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1972 (có mặt)

  • Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  • * Người làm chứng: Ông Ngô Đình H, sinh năm 1963 (vắng mặt)

  • Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng K, Ông Nguyễn Văn B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 13/9/2021 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 12/10/2023, các lời khai và lời khai tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Kim Q2 trình bày:

Bà và anh Giáp Hoàng A không có mối quan hệ gì, bà có mối quan hệ quen biết với bà T. Đối với thửa đất số 255, tờ bản đồ số 03, diện tích 90m², địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang(Nay là tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V) được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất ngày 28/12/2016 mang tên người chủ sử dụng đất ông Nguyễn Hoàng K, bà Nguyễn Kim Q2 đã chỉnh lý sang tên cho anh Giáp Hoàng A, sinh năm 2001, cư trú: Thôn M, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang ngày 19/02/2021 và chỉnh lý sang tên cho bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976, cư trú: Thôn M, xã H, huyện V ngày 04/3/2021 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V. Nguồn gốc thửa đất này là của bà, ông K và một phần đất của nhà anh B.

Ngày 10/02/2021 có việc vợ chồng bà đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Giáp Hoàng A đối với thửa đất số 255, tờ bản đồ số 3, diện tích 90m², địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Với sức ép của bà T là mẹ đẻ của anh A nên vợ chồng bà đã phải lập hợp đồng chuyển nhượng treo. Khi hợp đồng này lập xong thì anh A không trả cho vợ chồng bà một khoản tiền nào, vì vậy bà không bàn giao nhà đất cho anh A. Sau đó gia đình bà T đã thuê đầu gấu đến nhà bà, số người này tự ý phá cửa kính thủy lực, cửa chính ra vào, cắt dây điện cửa cuốn, tự ý thay khóa khác vào chỗ cửa kính, kê kệ trải giường chiếu giữa nhà bà tổ chức ăn uống ngủ nghỉ tại nhà bà và không cho chồng bà vào nhà, trước tình hình đó bà đã điện báo chính quyền xã, công an xã T, công an huyện V, công an tỉnh B, cảnh sát 113. Đến 12 giờ 30 phút công an xã đến làm việc, do Nguyễn Đức Q, Trưởng công an xã T cùng trưởng thôn Đầu đến làm việc. Khi Công an xã T đến làm việc, ông D1 là chồng bà T có xuất trình giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ chồng bà đã được chỉnh lý tại T 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Giáp Hoàng A. Ngày 04/3/2021 anh Giáp Hoàng A đã tặng cho bà Nguyễn Thị T. Sáng ngày 13/9/2021 vợ chồng bà có xuống Văn phòng C2, yêu cầu cung cấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với vợ chồng bà ký ngày 10/02/2021. Sau khi được Văn phòng C2 cung cấp hợp đồng nêu trên, vợ chồng bà xác định như sau:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa vợ chồng bà và anh Giáp Hoàng A là hợp đồng treo vì: Ngày 10/02/2021 trước sức ép của bà T, vợ chồng bà phải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh A, khi ký hợp đồng vợ chồng bà không biết mặt anh A là ai, từ khi ký hợp đồng đến nay anh A chưa trả bà bất kỳ khoản tiền nào là vi phạm vào khoản 2 Điều 2 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất mà vợ chồng bà ký ngày 10/02/2021 tại Văn phòng C2. Do anh A chưa trả cho vợ chồng bà một khoản tiền nào nên vợ chồng bà chưa làm thủ tục bàn giao tài sản cho anh A thì ngày 25/02/2021 anh A đã làm thủ tục tặng cho bà Nguyễn Thị Thanh T3 đất mà anh A đã ký với vợ chồng bà. Đất của vợ chồng bà có gắn liền với tài sản của ông Nguyễn Văn B là anh trai của ông K vì trong khối tài sản này có chung tường, diện tích đất nông nghiệp, đất ở của ông B theo như đơn yêu cầu độc lập của ông B. Vợ chồng bà đồng ý với yêu cầu độc lập

của ông B, vì vậy bà vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung.

Về nội dung diễn biến của lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 10/02/2021 như sau: Tại Văn phòng C2 có mặt vợ chồng bà, bà T, anh A không có mặt, ngoài ra còn có ông Ngô Đình H là người tính toán nợ giữa hai bên, ông H có mối quan hệ quen biết cả hai bên. Trước khi đến Văn phòng công chứng, ngày 31/01/2021 thì bà T gọi bà lên nhà có mặt ông H ở đó, bà T yêu cầu bà thanh toán nợ gốc và lãi mà bà vay ngày 01/4/2019 của bà T số tiền 900.000.000 đồng, ngày chốt lãi là 31/01/2021 số nợ gốc của bà là 1.150.000.000 đồng và lãi 253.000.000 đồng. Bà T yêu cầu tính tiền vay và tính tổng hai mã vay là 3.055.000.000 đồng cả gốc và lãi, bà không nhất trí với lý do bà chỉ vay 900.000.000 đồng ngày 01/4/2019, bà đã trả bà T các ngày: Ngày 02/01/2020 chuyển khoản từ của bà Ngân hàng V chi nhánh B1 520.000.000 đồng đến tài khoản của bà T tại Ngân hàng V1 chi nhánh B1; Ngày 23/8/2019 chuyển khoản 100.000.000 đồng từ tài khoản của bà từ ngân hàng V2 chi nhánh B1 đến tài khoản của bà T ngân hàng nào bà không rõ; Ngày 21/01/2020 bà đã trả cho bà T 150.000.000 đồng có giấy tờ; Ngày 27/3/2020 ông K trả từ tài khoản Ngân hàng N1 đến tài khoản bà T 40.000.000 đồng; Ngày 06/3/2020 bà chuyển từ Ngân hàng N1 chi nhánh V3 cho bà T 50.000.000 đồng; Ngày 08/6/2020 bà chuyển khoản 5.000.000 đồng cho bà T bằng điện thoại và hai lần chuyển khoản cho ông D1 chồng bà T ngày tháng nào bà không nhớ là 18.000.000 đồng. Tổng bà đã trả cho bà T 865.000.000 đồng. Ngoài ra bà còn một số lần đưa tay, nhưng không nhớ số tiền bao nhiêu và không có hóa đơn giấy tờ gì.

Trước khi lập Hợp đồng chuyển nhượng cho anh A đối với thửa đất trên thì vợ chồng bà thỏa thuận với bà T là 3.500.000.000 đồng (ba tỷ năm trăm triệu đồng). Tiền thanh toán bà T yêu cầu trừ đi 02 tỷ tiền vay nợ gốc và lãi, còn 770.000.000 đồng cho vợ chồng bà nợ, bà T thỏa thuận đưa cho vợ chồng bà tiền mặt 01 tỷ, còn 500.000.000 đồng sẽ chuyển khoản vào tài khoản của ông H vào ngày 28/02/2021. Có biên bản xác nhận 02 bên, xuống Văn phòng công chứng thì vợ chồng bà vẫn tưởng chuyển nhượng cho bà T. Sau khi bà xuống Văn phòng công chứng lấy hợp đồng chuyển nhượng vào tháng 9/2021 mới biết là ký hợp đồng với anh A.

Tại Văn phòng C2 ngày 10/02/2021: Bà khẳng định có việc lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Toàn bộ nội dung trong hợp đồng bà không đọc mà bà chỉ ký tên vì lập hợp đồng ký treo, sổ đỏ vừa rút ở ngân hàng nhưng chưa xóa thế chấp, bà khẳng định chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng mục bên A chữ ký: “Khang, Nguyễn Hoàng K, Q2, Nguyễn Kim Q2” là chữ ký chữ viết của vợ chồng bà. Lập hợp đồng chuyển

nhượng thửa đất số 255, tờ bản đồ số 3, diện tích 90m², địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Tại thời điểm lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì thửa đất trên nhà bà không có tranh chấp. Tài sản trên đất lúc đó có nhà 04 tầng, bên trong có các phòng karaoke nội thất của 4 phòng hát, ngoài ra không còn tài sản gì khác. Thực tế hai bên có thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất trên với 3,5 tỷ đồng nhưng trong hợp đồng chỉ ghi giá chuyển nhượng hai bên tự thỏa thuận. Khi lập hợp đồng chuyển nhượng thì bà có đưa giao cho bà T giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên chứ không có việc bàn giao nhà đất. Còn toàn bộ thủ tục thuế, lệ phí, và các thủ tục chỉnh lý sang tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do bà T làm bà không nắm được. Toàn bộ nội dung trong hợp đồng bà không đọc mà bà chỉ ký tên vào hợp đồng, sau khi ký tên thì hợp đồng này đã được Văn phòng công chứng chứng thực và bà không được giao bản nào.

Ngày 25/02/2021 tại Văn phòng C2, anh A lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà Nguyễn Thị T đối với thửa đất số 255, tờ bản đồ 3, diện tích 90m², địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang bà không biết và không nắm được. Ngày 19/02/2021 anh A đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V đã chỉnh lý sang tên trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nội dung này bà không nắm được. Ngày 04/3/2021 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V chỉnh lý sang tên trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T, bà cũng không nắm được.

Từ khi lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì vợ chồng bà vẫn ở trên thửa đất này, chưa bàn giao nhà đất cho anh A vì anh A không trả bà khoản tiền nào. Sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng thì sau đó bà T có nhiều lần đề nghị bà bàn bàn giao nhà đất. Việc bà T có đơn yêu cầu vợ chồng bà bàn giao nhà đất gửi chính quyền địa phương thì bà không nắm được, vợ chồng bà cũng không nhận được thông báo gì của chính quyền địa phương.

Nay bà khởi kiện và khởi kiện bổ sung yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • + Tuyên bố hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà, ông K và anh A lập ngày 10/02/2021 đối với thửa đất số 255, tờ bản đồ số 03, diện tích 90m², địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  • + Tuyên bố hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 04/3/2021 giữa anh Giáp Hoàng A với bà Nguyễn Thị T đối với thửa đất số 255, tờ bản đồ số 03, diện tích 90m², địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

Ngoài ra, bà không yêu cầu nội dung gì khác.

Nếu Tòa án tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà, ông K và anh A thì bà đề nghị giải quyết hậu quả của hủy hợp đồng trên.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Kim Q2 có mặt trình bày:

  • - Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung. Với lý do: Anh Anh khi giao dịch chuyển nhượng đất lúc đó sổ đỏ chưa xóa thế chấp ngân hàng, anh A chưa trả tiền cho bà, do nhà bà có tài sản và đất của ông B, có tường chung. Giao dịch giữa bà và anh A chưa xong các thủ tục chuyển nhượng mà anh A đã làm thủ tục tặng cho bà T là chưa đảm bảo quy định của pháp luật. Ngoài ra bà không còn lý do gì khác.

  • - Bà không đồng ý với yêu cầu phản tố của anh A với lý do: Lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì anh A chưa trả bà khoản tiền nào, bà ký hợp đồng chỉ là hợp đồng treo, ký hợp đồng khi thửa đất chưa được xóa thế chấp.

  • - Bà đồng ý với yêu cầu độc lập của ông B với lý do: Anh B trình bày là đúng sự thật, gia đình bà có xây chồng lấn sang đất nhà anh B và xây chung tường với nhà anh B, bà không có quyền bán thửa đất trên.

* Tại các bản tự khai và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Giáp Hoàng A là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà với tư cách là đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Giáp Hoàng A, bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của bà Nguyễn Kim Q2. Với các lý do: Bà và vợ chồng bà Q2, ông K có mối quan hệ quen biết. Đối với Thửa đất số 255, tờ bản đồ số 03, diện tích 90m², địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/12/2016 mang tên người chủ sử dụng đất ông Nguyễn Hoàng K, bà Nguyễn Kim Q2 đã chỉnh lý sang tên cho anh Giáp Hoàng A ngày 19/02/2021 và chỉnh lý sang tên cho bà Nguyễn Thị T ngày 04/3/2021 tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V. Nguồn gốc thửa đất này là của bà Q2, ông K. Ngày 10/02/2021 ông K, bà Q2 đã lập Hợp đồng chuyển nhượng cho anh Giáp Hoàng A thửa đất trên. Về diễn biến nội dung thỏa thuận các bên đúng như trong hợp đồng chuyển nhượng đã nêu. Thời điểm lập hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng C2 có bà, con trai bà anh A, ông Ngô Đình H, vợ chồng bà Q2, ông K, ngoài ra không có ai khác. Cụ thể chuyển nhượng giữa anh A và bà Q2, ông K là thửa đất số 255, tờ bản đồ số 03, diện tích 90m², các tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 81m², diện tích sàn 324m² bên bà Q2 đồng ý chuyển nhượng cho anh A toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất nêu trên. Giá chuyển nhượng 3,5 tỷ đồng nhưng trong hợp đồng ghi hai bên tự thỏa thuận, anh A trả cho bà Q2 03 tỷ tại Văn phòng công chứng còn anh A chuyển khoản 500.000.000 đồng cho ông Ngô Đình H theo yêu cầu của vợ chồng bà Q2, ông

K và đã có xác nhận đủ tiền của bà Q2 trong biên bản thỏa thuận ngày 10/02/2021. Sau đó tại Văn phòng công chứng các bên đã được đọc lại hợp đồng chuyển nhượng, ký tên xác nhận trong hợp đồng và được Văn phòng C4, chứng thực hợp đồng. Điều 3 Hợp đồng có ghi bên bà Q2 phải giao thửa đất tài sản gắn liền với đất cùng giấy tờ về quyền sử dụng đất cho anh A vào thời điểm hợp đồng này được công chứng, lý do bà Q2 chưa giao nhà đất cho anh A là bà Q2 con nhỏ chưa có chỗ ở khác, xin ở nhờ 2-3 tháng để sắp xếp chỗ ở khác. Nhưng sau thời gian đó bà Q2 đã không bàn giao nhà đất cho anh A cho dù đã yêu cầu bà Q2, ông K bàn giao nhà đất rất nhiều lần.

Ngày 25/5/2021 tại Văn phòng C2, anh A lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà, anh A tặng cho cá nhân bà, anh A chưa có vợ con. Anh A tặng cho bà thửa đất và tài sản gắn liền với đất mà đã mua của bà Q2, ông K là thửa đất số 255, tờ bản đồ 3, diện tích 90m², địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang. Toàn bộ nội dung hai bên thỏa thuận thống nhất như trong hợp đồng tặng cho nêu. Lúc lập hợp đồng tặng cho có bà, anh A và công chứng viên, ngoài ra không có ai khác. Sau khi lập hợp đồng các bên đã được đọc lại thống nhất ký tên làm bằng và đã được Văn phòng công chứng chứng thực hợp đồng. Sau đó do bà chưa ở đến nhà đất trên nên cho bà Q2, ông K ở nhờ nên bà không đến để ở.

Ngày 19/02/2021 anh A đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V đã chỉnh lý sang tên Trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 04/3/2021 bà đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V chỉnh lý sang tên trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ khi lập hợp đồng chuyển nhượng bà Q2, ông K vẫn chưa bàn giao nhà đất cho anh A như thỏa thuận miệng cho ở nhờ khoảng 2-3 tháng, đến khi hết hạn cho ở nhờ bà Q2, ông K không trả nhà đất cho anh A. Sau khi anh A đòi nhiều lần không trả và khi tặng cho bà thửa đất trên xong, ngày 10/8/2021 bà đã có đơn đề nghị yêu cầu bà Q2, ông K bàn giao nhà đất mà anh A đã tặng cho bà nhưng bà Q2, ông K vẫn không bàn giao nhà đất cho bà, Ngày 15/8/2021 bà lại làm đơn đề nghị tiếp yêu cầu ông K, bà Q2 bàn giao nhà đất cho bà. Sau hai lần bà làm đơn và yêu cầu trực tiếp ông K, bà Q2 bàn giao nhà đất cho bà nhưng vẫn chây ỳ không chịu bàn giao và lại ra các lý do để muốn chiếm giữ nhà đất này bất hợp pháp. Ngày 10/9/2021 bà có làm 03 đơn đề nghị gửi UBND phường T, Trưởng Công an phường T, ban lãnh đạo thôn Đ, xã T về việc trình bày nội dung ông K, bà Q2 không bàn giao nhà đất cho bà. Sau đó các cơ quan này không có văn bản gì trả lời cho bà. Tiếp đến ngày 16/9/2021 bà có đơn trình báo tiếp đến ban lãnh đạo phường T, Công an phường T, Ban lãnh đạo thôn Đầu về việc gia đình ông K, bà Q2 đưa một số người lạ đến đe dọa bà. Ngày 20/9/2021 bà làm đơn tiếp thông báo cho bà Q2, ông K ấn định thời gian ngày 06/10/2021

dương lịch phải thu dọn tài sản cá nhân để trả lại nhà đất cho gia đình bà. Nhưng sau đó gia đình ông K, bà Q2 vẫn không chịu bàn giao nhà đất cho bà.

Nay bà Q2 khởi kiện và khởi kiện bổ sung yêu cầu tuyên bố hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bà Q2, ông K và anh A và tuyên bố hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa anh A và bà. Bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà Q2 với các lý do bà đã trình bày ở trên. Nếu Tòa án tuyên hủy các hợp đồng trên thì bà cũng không đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Bà đề nghị Tòa án công nhận các hợp đồng trên là có hiệu lực pháp luật vì hợp đồng chuyển nhượng, hợp đồng tặng cho đã được Văn phòng C4, chứng thực và Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V chỉnh lý sang tên giấy chứng nhận cho anh A và bà như đã trình bày ở trên và buộc bà Q2, ông K phải bàn giao nhà đất cho bà do giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nay đã được chỉnh lý đứng tên bà và nếu phải tháo dỡ tường xây theo xem xét thẩm định, định giá bà đồng ý tháo dỡ.

Bà tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án này thì bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện, khởi kiện bổ sung của bà Q2, bà nhất trí với yêu cầu phản tố của anh A, ngoài ra bà không có ý kiến nào khác.

Tại phiên tòa anh Giáp Hoàng A vắng mặt.

Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh A bà T trình bày: Bà không đồng ý toàn bộ với yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của bà Q2 và yêu cầu độc lập của ông B. Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố của anh A đề nghị Tòa án giải quyết:

  • + Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 10/02/2021 giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Hoàng K, bà Nguyễn Kim Q2 với bên nhận chuyển nhượng là ông Giáp Hoàng A đã được Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3 công chứng ngày 10/02/2021 là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật và tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 25/02/2021giữa ông Giáp Hoàng A với bà Nguyễn Thị T đối với thửa đất số 255, tờ bản đồ số 03, diện tích 90m², địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang đã được Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3 công chứng ngày 25/02/2021 có hiệu lực pháp luật.

  • + Buộc ông Nguyễn Hoàng K và bà Nguyễn Kim Q2 phải trả lại thửa đất số 255, tờ bản đồ số 03, diện tích 90m², địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang cùng toàn bộ tài sản gắn liền với thửa đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Thanh quản L1, sử dụng.

Với các lý do: Anh Anh mua đất của bà Q2, ông K có trả tiền thể hiện tại biên bản thỏa thuận xác nhận tiền của bà Q2 đã có kết luận giám định của Công an, có người làm chứng ông H xác nhận, anh A thủ tục mua bán đúng quy định của

pháp luật, không có tranh chấp, không lấn chiếm, anh A mua đúng diện tích giấy chứng nhận của bà Q2, ông K. Về khởi kiện bổ sung của bà Q2 đề nghị hủy hợp đồng tặng cho giữa bà và anh A, bà không đồng ý với lý do: Anh A mua đất chuyển nhượng đúng hợp pháp, sau khi anh A mua xong thì có cho bà Q2, ông K ở nhờ bây giờ không giao đất cho bà phát sinh khởi kiện anh A và bà, bà đề nghị xem xét buộc bà Q2, ông K phải trả lại nhà đất trên cho bà vì bà đã được chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trang 3 mang tên bà. Về xóa thế chấp thì trước khi có xác nhận chính quyền địa phương không có tranh chấp, lấn chiếm thì đã có xóa thế chấp mới có việc lập hợp đồng chuyển nhượng.

Tài sản của bà Q2, ông K chuyển nhượng cho anh A đã được ghi nhận tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng các bên là đúng quy định của pháp luật đã được Văn phòng C2 chứng thực, sau đó đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thẩm tra và làm thủ tục chỉnh lý sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh A, bà và anh A, bà đã được xác nhận biến động và trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên, lý do anh A chưa nhận bàn giao nhà đất theo hợp đồng là do bà Q2 không bàn giao nhà đất cho anh A, bà T đã yêu cầu bà Q2, ông K bàn giao nhà đất nhiều lần nhưng bà Q2, ông K không trả, nếu tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho thì anh A, bà cũng không yêu cầu giải quyết hậu quả của hủy hợp đồng Ngoài ra, anh A, bà không có đề nghị gì khác.

Về yêu cầu độc lập của ông B bà cũng không đồng ý với lý do: Ý kiến ông B đưa ra bà không biết, khi mua thì bà Q2, ông K không nói là chung tường, bà chỉ biết khi mua có ký xác nhận đất không có tranh chấp, có chữ ký xác nhận của địa phương đóng dấu, thửa đất đủ điều kiện chuyển nhượng theo quy định.

Bà tham gia với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án: Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của bà Q2 và yêu cầu độc lập của ông B. Bà đồng ý với yêu cầu phản tố của anh A với các lý do bà đã trình bày ở trên.

* Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng K trình bày:

Ông đồng ý với yêu cầu khởi kiện và khởi kiện bổ sung của bà Q2, yêu cầu độc lập của anh B, không đồng ý với yêu cầu phản tố của anh A với lý do: Gia đình anh chưa nhận được tiền của anh A, thửa đất có một phần đất của ông B. Nguồn gốc thửa đất số 255, tờ bản đồ số 03, diện tích 90m², địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là của ông B cho vợ chồng ông, cho thời điểm nào thì ông không rõ, được thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vợ chồng ông, lúc cho có nhà 03 tầng, ông B xây dựng năm nào không rõ. Việc lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất giữa vợ chồng ông và anh A

ngày 10/02/2021 đối với thửa đất trên thì ông có biết do bà Q2 gọi xuống Văn phòng C2 ký, ông khẳng định chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng phải là chữ ký của ông. Vợ chồng ông chưa bàn giao nhà đất do anh A chưa trả cho vợ chồng ông được khoản tiền nào.

Tại phiên tòa ông K có mặt trình bày: Ông đồng ý với ý kiến trình bày của bà Q2 và ông B, ngoài ra ông không có ý kiến gì khác.

* Tại các lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn Văn B trình bày:

Ông không có mối quan hệ với chị T, anh A, ông là anh ruột của ông K chồng bà Q2. Thửa đất nhà ông mua năm 1990, năm 1995 ông làm nhà ra ở, năm 2007 ông có cho em trai ông là K tách thửa đất của gia đình ông là 4,5m mặt đường. Năm 2007 vợ chồng bà Q2, ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ông có cho ông K, bà Q2 mượn tường bếp gia đình nhà ông để xây phòng hát lên phía trên. Tường này ông xây từ năm 1997, tường xây 110, có bổ trụ 20, tường cao khoảng 4-5m nằm trong diện tích 120m² của gia đình ông tại thửa đất số 66a, tờ bản đồ số 03 tại thôn Đ, xã T và 01 phần diện tích đất nông nghiệp của gia đình ở phía sau nhà chính của ông K và bà Q2 để xây bếp. Diện tích đất nông nghiệp này khoảng 20m², có chiều rộng khoảng 4,5m và chiều dài khoảng 5m nằm trong diện tích đất 659m² thuộc thửa số 184, tờ bản đồ số 3 ở cánh đồng Từ Ôn. Toàn bộ diện tích đất ông K, bà Q2 mượn của gia đình ông đều nằm trong diện tích đất ở và đất nông nghiệp mà gia đình ông được UBND huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM011983 và AL028489. Do ông K, bà Q2 mượn đất của ông để sử dụng nhưng lại thiết lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh Giáp Hoàng A là không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông. Vì vậy, ông đề nghị buộc ông K, bà Q2 phải trả lại ông diện tích đất và đất nông nghiệp mà ông đã trình bày ở trên để gia đình ông sử dụng.

Thời điểm gia đình ông làm nhà có chung trần nhà, tường nhà với nhà ông K, bà Q2. Ông xác định phần tường này nằm trên đất của nhà ông K, bà Q2 nhưng trần hai nhà dùng chung, cả nhà ông K, bà Q2 đều do ông xây tầng 1 và 2, sau đó cho ông K, bà Q2 ở, còn ông K, bà Q2 chỉ làm thêm tầng 3. Khi ông K, bà Q2 ở là không có giấy tờ, ông cho em ông ở, xây nhà trước khi ông K, bà Q2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông không có ý kiến gì về ngôi nhà mà ông đã xây. Bà Q2 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh A không có sự đồng ý của ông, ông không đồng ý và làm đơn yêu cầu độc lập trong vụ án này do có tài sản của ông và ông đề nghị giải quyết yêu cầu của ông theo quy định của pháp luật.

Toàn bộ quá trình lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Q2, ông K và những người khác thì ông không nắm được nội dung cụ thể và không biết, không chứng kiến. Nếu Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập giữa Q2, K và anh A lập ngày 10/02/2021 thì ông đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả là buộc gia đình bà Q2, ông K phải tháo dỡ công trình mượn để xây trên thửa đất của gia đình ông. Ngoài ra ông không còn đề nghị nội dung gì khác.

Tại phiên tòa sơ thẩm ông B có mặt trình bày: Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập đề nghị Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 10/02/2021 giũa ông Nguyễn Hoàng K, bà Nguyễn Kim Q2 và anh Giáp Hoàng A. Ông đồng ý với ý kiến của bà Q2 như các lý do bà Q2 đã trình bày. Ngoài ra ông không có ý kiến gì khác.

* Tại bản tự khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Chu Thị N trình bày:

Năm 1990 gia đình bà có mua một thửa đất ở thuộc khu dộc Từ Ôn thôn Đ, xã T, huyện V giáp quốc lộ C, rộng 10,5m, dài 20m đã trừ hành lang đường. Năm 1997 bà có xây nhà để ở chiều dài căn nhà là 10m chia làm 02 căn, một bên 6, một bên 4,6m, bức tưởng ở giữa chung hai nhà và mặt tần liền chung nhau.

Đến năm 2007, bà có tách làm hai quyển sổ quyền sử dụng đất gồm: 01 sổ ông B, bà N diện tích 120m², 6m mặt quốc lộ C, 20m chiều dài giáp hộ ông ông Q1; 01 sổ cho ông K, bà Q2 có chiều rộng 4,5m, chiều dài 20m, diện tích 90m², gia đình bà Q2, ông K có tu sửa lại nhà làm phòng Karaoke, từ nhà cũ 02 tầng dài 10m xây dài nối trước và sau dài 24m cao 4 tầng riêng phần nối đằng sau có xây nhờ lên thửa đất nhà bà khoảng 20m thuộc thửa số 184, tờ bản đồ số 3, diện tích 659m² về phần tiếp giáp với nhà bà, em trai bà là ông K có hỏi xây nhờ lên tường bếp nhà bà chiều dài 6m, chiều rộng 18cm, như vậy ngôi nhà của bà và ông K, bà Q2 là có phần đất của gia đình bà như đã nêu trên. Nhưng khi giao dịch chuyển nhượng đất với anh Giáp Hoàng A, ông K không thông báo cho bà biết về sự chuyển nhượng này, việc ông K chuyển nhượng cho anh A có phần đất thuộc quyền sở hữu của gia đình bà và tài sản trên đất có chung tường, không có sự thỏa thuận hoặc được sự đồng ý của gia đình bà. Việc chuyển nhượng quyền sở hữu nêu trên là xâm phạm đến quyền sở hữu của vợ chồng bà. Vậy, bà đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông K ký với anh Giáp Hoàng A ngày 10/02/2021.

Tại phiên tòa bà Chu Thị N vắng mặt.Người đại diện theo ủy quyền bà N là ông B có mặt trình bày: Ông vẫn giữ nguyên các ý kiến trình bày của bà N, ngoài ra không có ý kiến gì khác.* Tại Biên bản lấy lời khai Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3) do ông Giáp Văn C đại diện theo pháp luật trình bày:

Về nội dung, quá trình diễn biến Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3) chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/02/2021 giữa ông Nguyễn Hoàng K, bà Nguyễn Kim Q2 là bên chuyển nhượng và ông Giáp Hoàng A là bên nhận chuyển nhượng thì cụ thể như sau:

Ngày 10/02/2021 tại Văn phòng C2 có mặt ông K, bà Q2, ông A, bà T, ông H. Sau khi những người có tên trên có mặt tại Văn phòng C5, thống nhất lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 255, tờ bản đồ số 3, diện tích 90m², địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2016 mang tên ông Nguyễn Hoàng K, bà Nguyễn Kim Q2. Văn phòng công chứng soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo sự thỏa thuận của bên chuyển nhượng là ông K, bà Q2 và bên nhận chuyển nhượng là anh A, toàn bộ nội dung trong hợp đồng ký kết là do ý trí của bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Sau khi soạn thảo xong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, các bên có mặt đọc lại và tự nguyện nhất trí ký vào các mục bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Ông K, bà Q2, anh A có mặt ký vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên. Sau khi các bên ký xong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất ngày 10/02/2021 thì Văn phòng C2 đã công chứng, chứng thực theo hợp đồng đã ký kết có sự thỏa thuận thống nhất của các bên. Việc chứng thực này có mặt các đương sự ký kết hợp đồng ký trước mặt công chứng viên.

Ngày 10/02/2021 các đương sự có mặt ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hoàn toàn tự nguyện của các bên, có mặt đầy đủ ông K, bà Q2, anh A và không thấy có sự ép buộc ký kết hợp đồng giữa các bên tại Văn phòng C2.

Ngày 25/02/2021 tại Văn phòng C2 có mặt anh A, bà T. Sau khi những người có tên trên có mặt tại Văn phòng C5, thống nhất lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Văn phòng Có hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo sự thỏa thuận của bên tặng cho là anh A và bên nhận tặng cho bà T, toàn bộ nội dung trong hợp đồng ký kết là do ý trí của bên tặng cho và bên nhận tặng cho. Sau khi soạn thảo xong Hợp đồng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, các bên có mặt đọc lại và tự nguyện nhất trí ký vào các mục bên tặng cho và bên nhận tặng cho.

Văn phòng C2 (nay là Văn phòng C3) đã thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/02/2021 và công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với

đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện V công nhận điều chỉnh thay đổi tại trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 19/02/2021 cho anh A, ngày 04/3/2021 cho bà T. Theo ý kiến của đại diện theo pháp luật của Chi nhánh văn phòng Đ trình bày: Hồ sơ đăng ký biến động của bà Q2, ông K1 và bên nhận chuyển nhượng là anh A: Đối với nội dung xác nhận đăng ký chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất trên trang 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện V là đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 168; Điều 179 và khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013; Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ, trình tự thủ tục thực hiện thủ tục hành chính đảm bảo theo quyết định số 166/QĐ-UBND ngày 30/01/2020 của UBND tỉnh B.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử thấy các bên lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất ngày 10/02/2021 và Hợp đồng tặng cho ngày 25/02/2021, thay đổi trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 19/02/2021, ngày 04/3/2021 cho anh A và bà T là đảm bảo theo quy định của pháp luật, có hiệu lực pháp luật.

Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tuyên bố hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/02/2021 và Hợp đồng tặng cho ngày 25/01/2021 tại Văn phòng C2 là có căn cứ.

[2.3] Xem xét yêu cầu phản tố của anh A thì thấy:

Như đã phân tích ở mục [2.2] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất ngày 10/02/2021 lập giữa ông K1, bà Q2 và anh A là hợp pháp, có hiệu lực pháp luật nên hợp đồng tặng quyền sử dụng đất ngày 04/3/2021 giữa ông Giáp Hoàng A với bà Nguyễn Thị T có hiệu lực pháp luật nên anh A yêu cầu buộc ông K1, bà Q2 phải giao trả để bà Thanh quản L1 và sử dụng thửa đất số 255, tờ bản đồ số 03, diện tích 90m² cùng các tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Giáp Hoàng A là có căn cứ.

[2.4] Xem xét yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn B thì thấy:

Tại biên bản lấy lời khai ông B xác định ông K1, bà Q2 có xây dựng 01 nhà cấp 3 loại 2 công trình khép kín 03 tầng có kết cấu khung chịu lực xây dựng năm 2013 lên trên diện tích 20m² đất nông nghiệp của ông B. Khi ông K1 bà Q2 chuyển nhượng cho anh A, ông B không biết nên ông B yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 10/02/2021 giữa ông K1, bà Q2 và anh A.

Theo lời khai bà Q2: 01 nhà cấp 3 loại 2 công trình khép kín 03 tầng có kết cấu khung chịu lực xây dựng năm 2013 xác định là do ông K1 bà Q2 xây dựng; 01 nhà cấp 3, loại 1 có công trình khép kín được xây dựng 04 tầng năm 2013 có tầng 01 và tầng 2 do ông B xây dựng, sau đã cho ông K1 bà Q2 ở và xây dựng thêm tầng 3 và tầng 4 nằm trên diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận cho ông K1, bà Q2 năm 2016.

Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là các tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của ông K1 bà Q2 khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Diện tích đất trên đã được xác định đất ở và các tài sản gắn liền với đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng dụng đất cho ông K1 và bà Q2 năm 2016; theo lời trình bày của đại diện UBND phường T: Đối với diện tích của thửa đất số 255, tờ bản đồ số 3 khi cấp giấy chứng nhận thì diện tích là 90m², theo kết quả đo đạc hiện trạng thực tế của Công ty Đ là 109,0m², diện tích chênh lệch so với giấy chứng nhận là 19,0m² là do một phần diện tích phía trước lấn ra hành lang giao thông đường và một phần diện tích phía sau lấn ra đường. Như vậy không có căn cứ nào để xác định diện tích 20 m² đất nông nghiệp như ông B trình bày nằm trong diện tích thửa đất của ông K1 bà Q2. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông B là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bà Q2, ông K1 và ông B cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo của mình.

Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận yêu của kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Kim Q2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng K, ông Nguyễn Văn B, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm đã xử.

[3] Về chi phí giám định tại cấp phúc thẩm: Bà Q2 phải chịu số tiền 5.240.000 đồng chi phí giám định.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Do yêu cầu kháng cáo của bà Q2, ông K, ông B không được chấp nhận nên nên căn cứ vào khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH năm 2016. Bà Q2, ông K, ông B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Kim Q2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng K, ông Nguyễn Văn B. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 03/2024/DS-ST ngày 22/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

[2] Về chi phí giám định tại cấp phúc thẩm: Bà Nguyễn Kim Q2 phải chịu số tiền 5.240.000 đồng chi phí giám định. Xác nhận bà Q2 đã nộp đủ số tiền trên.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án năm 2016.

Bà Nguyễn Kim Q2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận bà Q2 đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0003308 ngày 06/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên.

Ông Nguyễn Hoàng K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông K đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0003306 ngày 06/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên.

Ông Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông B đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0003308 ngày 06/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thị xã Việt Yên;

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;

  • - Chi cục THADS thị xã Việt Yên;

  • - Các đương sự;

  • - Cổng thông tin điện tử của TANDTC;

  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/DS-PT ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 190/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger