TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 190/2024/DS-ST Ngày 30/9/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Giúp Đở
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lạc
Ông Lê Hoàng Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Minh Khang – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 188/2024/TLST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 642/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 697/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Cao Văn T, sinh năm 1991
Địa chỉ: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Mai Hoàng A (Văn bản uỷ quyền ngày 06/5/2024) (có mặt)
Bị đơn: Ông Lê Trung H, sinh năm 1976 (có mặt)
Bà Đặng Kim H1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 03/01/2023, ông Cao Văn T có ký Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận với ông Lê Trung H, bà Đặng Kim H1 để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS04368 và số CS04370 được cấp cùng ngày 10/8/2020. Trước khi ký Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận thì ông T đã giao cho ông H và bà H1 số tiền 2.000.000.000đồng tại quán cà phê bên cạnh Văn phòng C. Sau đó hai bên mới ký Biên nhận 2.000.000.000đồng và có Công chứng tại Văn phòng C. Ngoài ra, giữ ông T và ông H, bà H1 không có thoả thuận việc vay mượn tiền cũng như không có việc ký hợp đồng vay số tiền 400.000.000đồng như ông H đã khai. Từ khi ký hợp đồng đặt cọc đến nay ông H, bà H1 đã cố tình không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mặc dù ông T đã nhiều lần nhắc nhở, thông báo. Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ Hợp đồng đặt cọc ngày 03/01/2023 và buộc ông H, bà H1 phải trả lại cho ông T số tiền cọc đã nhận 2.000.000.000đồng và tiền phạt cọc 2.000.000.000đồng như đã thoả thuận trong hợp đồng đặt cọc.
Đối với bản sao kê giao dịch của ông Lê Trung H từ ngày 01/12/2022 đến ngày 01/12/2023 đã cung cấp cho T1 án là không liên quan quan gì đến Hợp đồng đặt cọc ngày 03/01/2023 giữa ông T và ông H, bà H1. Vì giữa hai bên không thực hiện giao dịch chuyển khoản mà giao nhận trực tiếp và có biên nhận tiền được công chứng.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Lê Trung H trình bày:
Vào ngày 03/01/2023, ông cùng vợ là bà Đặng Kim H1 có vay của ông Cao Văn T số tiền 400.000.000đồng, lãi suất 10%/tháng để làm thủ tục giải ngân nợ ở Ngân hàng. Tuy nhiên, người trực tiếp thoả thuận việc cho vay với vợ chồng ông là ông Mai Hoàng A, ông không biết ông Cao Văn T và cũng chưa gặp mặt lần nào. Để được vay số tiền này thì ông Hoàng A yêu cầu ông phải ký Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận vào ngày 03/01/2023, tại Văn phòng C. Ông có xem qua nội dung hợp đồng và nội dung biên nhận có thể hiện vợ chồng ông đã nhận cọc 2.000.000.000đồng, nhưng do cần tiền vay nên vợ chồng ông đã chấp nhận ký Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận nêu trên. Ngoài ra, vợ chồng ông có ký hợp đồng vay nhưng không có công chứng và bên ông Hoàng A là người giữ hợp đồng vay này. Sau khi ký hợp đồng và biên nhận thì bên ông T có chuyển khoản cho ông số tiền vay sau khi cấn trừ phí và lãi tháng đầu tiên thì ông chỉ nhận được khoảng 315.000.000đồng. Sau đó ông đã đóng lãi được 02 tháng với số tiền 80.000.000đồng, việc đóng lãi không giao trực tiếp mà chỉ chuyển khoản qua số tài khoản do ông Hoàng A cung cấp. Hơn nữa từ khi ký Hợp đồng đặt cọc và Biên nhận đến nay vợ chồng ông không nhận được Hợp đồng và biên nhận đã ký.
Do đây chỉ là hợp đồng vay, không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nếu bên nguyên đơn đồng ý đây hợp đồng vay thì vợ chồng ông sẽ trả cho nguyên đơn 400.000.000đồng cùng tiền lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Đặng Kim H1 vắng mặt.
Tại phiên tòa:
Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu Toà án huỷ hợp đồng đặt cọc giữa ông T với ông H, bà H1 và buộc bị đơn phải trả số tiền cọc 2.000.000.000đồng mà bị đơn đã nhận của nguyên đơn. Ngoài ra, yêu cầu Toà án buộc bị đơn phải chịu phạt cọc số tiền 2.000.000.000đồng, do bị đơn không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo như hợp đồng đặt cọc mà nguyên đơn và bị đơn đã thoả thuận.
Bị đơn, Lê Trung H thừa nhận vào 03/01/2023, ông và bà Đặng Kim H1 là vợ của ông có ký Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ký Biên nhận cọc số tiền 2.000.000.000đồng tại Văn văn phòng C. Tuy nhiên, ông và bà H1 chỉ thoả thuận vay 400.000.000đồng, lãi suất 10%/tháng, nhưng ông chỉ nhận được số tiền 325.000.000đồng sau khi tính phí và tiền lãi của tháng đầu tiên, sau đó ông chuyển khoảng đóng lãi 40.000.000đồng vào ngày 07/3/2023. Thực tế giữa ông và ông T không có thoả thuận việc ký hợp đồng đặt cọc, hơn nữa ông không biết mặt ông T là ai và chưa gặp mặt lần nào. Việc ký hợp đồng đặt cọc và biên nhận ngày 03/01/2023 thì ông có xem, ông biết nội dung đặt cọc và nhận số tiền cọc 2.000.000.000đồng, nhưng do ông và bà H1 cần tiền vay và bên cho vay yêu cầu ký nên ông, bà H1 mới ký. Nay ông chỉ đồng ý trả số tiền vay theo thoả thuận khi vay là 400.000.000đồng, ông không đồng ý với yêu cầu trả lại số tiền cọc 2.000.000.000đồng và tiền phạt cọc 2.000.000.000đồng.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xử và Thư ký đã tuân thủ đúng quy định pháp luật kể từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử đúng theo quy định. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền cọc là 2.000.000.000đồng và buộc bị đơn phải chịu phạt cọc số tiền 2.000.000.000đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Căn cứ vào yêu cầu của đương sự và nơi cư trú của bị đơn thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn Kim H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án căn cứ Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Xét yêu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ cũng như lời trình bày của đương sự thì giữa ông T và ông H, bà H1 có thoả thuận về việc đặt cọc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của thửa đất số 1426 và thửa số 1751, tờ bản đồ số 7, toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Việc thoả thuận này các bên có lập hợp đồng và được công chứng vào ngày 03/01/2023. Theo thoả thuận trong hợp đồng thì bên nhận chuyển nhượng là ông Cao Văn T sẽ đặt cọc cho bên chuyển nhượng là ông Lê Trung H và bà Đặng Kim H1 số tiền 2.000.000.000đồng để nhận chuyển nhượng 02 thửa đất nêu trên với tổng diện tích của 02 thửa là 19.659m², giá chuyển nhượng là 6.000.000.000đồng. Ngoài ra, các bên còn thoả thuận trách nhiệm của bên chuyển nhượng phải trả lại cọc và phải chịu phạt cọc tương đương với số tiền cọc đã nhận nếu từ chối giao kết hợp đồng chuyển nhượng.
[3] Để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng đặt cọc trên, cùng ngày ông T đã đặt cọc cho ông H, bà H1 số tiền 2.000.000.000đồng và ông H, bà H1 đã ký Biên nhận cọc được công chứng. Nội dung biên nhận đã thể hiện ông H, bà H1 có nhận số tiền cọc của ông T 2.000.000.000đồng bằng tiền mặt vào ngày 03/01/2023. Mặc dù, ông H không thừa nhận có việc thoả thuận đặt cọc, nhận cọc và ông H cho rằng chỉ nhận chuyển khoản, đồng thời ông cung cấp bảng sao kê tài khoản của ông có nhận chuyển tiền 325.000.000đồng vào ngày 03/01/2023. Tuy nhiên, những giao dịch trong tài khoản của ông H không có nội dung chuyển khoản, không có thông tin người chuyển và số tiền ông cho rằng đóng lãi 40.000.000đồng ngày 07/3/2023 cũng không có thông tin giao dịch.
[4] Từ những phân tích nêu trên cho thấy bị đơn có đầy đủ nhận thức và biết hậu quả của việc ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và biên nhận cọc 2.000.000.000đồng, nhưng bị đơn vẫn chấp nhận ký. Đến nay bị đơn cho rằng thực tế không có thoả thuận đặt cọc, không nhận cọc nhưng thoả thuận đặt cọc và nhận cọc “đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp” nên đây là sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà ông H không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc vay của ông T số tiền 400.000.000đồng như ông đã trình bày. Hơn nữa bị đơn cho rằng không có thoả thuận đặt cọc nên không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ, nên hợp đồng đặt cọc này không thể thực hiện được. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc huỷ hợp đồng đặt cọc, buộc bị đơn phải trả lại tiền cọc và phải chịu phạt cọc là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 328 và Điều 423 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Huỷ hợp đồng đặt cọc số 10, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/01/2023 giữa ông Cao Văn T với ông Lê Trung H và bà Đặng Kim H1 được công chứng tại Văn phòng C.
- Buộc ông Lê Trung H và bà Đặng Kim H1 có trách nhiệm trả cho ông Cao Văn T số tiền 4.000.000.000đồng ( bốn tỷ đồng). Trong đó: Tiền cọc 2.000.000.000đồng (hai tỷ đồng) và tiền phạt cọc 2.000.000.000đồng (hai tỷ đồng). Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm trả số tiền nêu trên thì bị đơn còn phải chịu tiền lãi tính theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 112.000.000đồng, ông Lê Trung H và bà Đặng Kim H1 phải chịu. Ông Cao Văn T được nhận lại 56.000.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004294 ngày 22/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Giúp Đỡ |
Bản án số 190/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 190/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
