|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 190/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19/9/2024
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bình và ông YB Lao BKrông
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Trần Tố Lâm - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/02/2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 05/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hoàng Đắc Thanh N, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: Thôn E, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1984.
Nơi cư trú: Thôn E, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Hoàng Đắc Thanh N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chúng tôi quen biết, tìm hiểu và quyết định xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, trên cơ sở tình yêu tự nguyện. Tuy nhiên, đến ngày 06/5/2010 chúng tôi mới đến UBND xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi về chung sống vợ chồng hạnh phúc hạnh phúc được khoảng 06 năm, đến giữa năm 2014 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nên dần không quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau và quan trọng nhất là ông Á không chung thuỷ, có quan hệ với nhiều người phụ nữ khác dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài và không thể hòa giải được và thực tế vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ tháng 01 năm 2023 cho đến nay. Vợ chồng chúng tôi cũng đã được hai bên gia đình khuyên răn, hòa giải nhưng vợ chồng chúng tôi không thể hàn gắn được. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trở nên trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài thêm, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù vợ chồng chúng tôi đã được Toà án động viên, hoà giải để vợ chồng tôi đoàn tụ. Tuy nhiên tôi vẫn có nguyện vọng xin ly hôn với ông Á.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chúng tôi có 02 con chung, các cháu tên Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 01/6/2014 và cháu Nguyễn Hoàng Quế T1, sinh ngày 06/10/2008. Tôi có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Bảo T đến khi cháu đủ 18 tuổi và có nguyện vọng giao cháu Quế T1 cho ông Nguyễn Văn Á được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu đến khi cháu Quế T1 đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Tôi và ông Nguyễn Văn Á tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và ông Nguyễn Văn Á tự thỏa thuận phân chia, nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.
Về án phí: Tôi tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
2. Trong quá trình tham gia tố tụng bị đơn ông Nguyễn Văn Á trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng chúng quen biết, tìm hiểu và quyết định xây dựng gia đình với nhau vào năm 2008, trên cơ sở tình yêu tự nguyện. Tuy nhiên, vào ngày 06/5/2010 chúng tôi mới đến UBND xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi về chung sống vợ chồng hạnh phúc được khoảng 15 năm, đến đầu năm 2023 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tôi không chung thuỷ với vợ nên dẫn đến vợ chồng hay thường xuyên cãi vả, to tiếng với nhau và hai vợ chồng sống ly thân với nhau từ năm 2023 cho đến nay. Hiện nay bà N làm đơn ly hôn thì tôi không đồng ý ly hôn, tôi vẫn còn tình cảm với vợ và quan trọng nhất là ảnh hưởng đến hai con còn nhỏ, đề nghị Tòa án tiến hành hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chúng tôi có 02 con chung, các cháu tên Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 01/6/2014 và cháu Nguyễn Hoàng Quế T1, sinh ngày 06/10/2008. Trong trường hợp Toà án giải quyết ly hôn thì tôi có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Hoàng Quế T1 đến khi cháu đủ 18 tuổi và có nguyện vọng giao cháu Nguyễn Hoàng Bảo T cho bà Hoàng Đắc Thanh N được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Tôi và bà Hoàng Đắc Thanh N tự thỏa thuận, nên không yêu cầu Tòa án đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung và tài sản cho người khác vay: Trong trường hợp Toà án giải quyết ly hôn thì chúng tôi tự thỏa thuận phân chia, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án từ khi Tòa án thụ lý và tại phiên tòa sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 220; Điều 227; Điều 235; Điều 266; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, Điều 52, Khoản 1 Điều 53, Điều 54, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Đắc Thanh N.
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Đắc Thanh N được ly hôn với ông Nguyễn Văn Á.
+ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Bảo T cho ông Nguyễn Văn Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Giao cháu Nguyễn Hoàng Quế T1 cho bà Hoàng Đắc Thanh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
+ Về án phí, chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết là ly hôn đây là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về nội dung:
[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Đắc Thanh N và ông Nguyễn Văn Á tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì quan hệ hôn nhân bà N và ông Á đều thừa nhận vợ chồng sống chung có mâu thuẫn xảy ra, ông Á không chung thủy với bà N. Nguyên nhân chủ yếu là do ông Á và hiện nay bà N và ông Á đã sống ly thân nhau.
Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án thì Tòa án đã hòa cho bà N và ông Á về đoàn tụ gia đình nhưng đến nay ông Á không có biện pháp gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình còn bà N vẫn giữ nguyên ý kiến ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà N và ông Á đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà N, cho bà N được ly hôn với ông Á là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
[2.2].Về con chung: Trong thời gian chung sống bà N và ông Á có hai con chung, là Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 01/6/2014 và Nguyễn Hoàng Quế T1, sinh ngày 06/10/2008.
Bà N1 và ông Á đều có ý kiến: Trong trường hợp Toà án giải quyết ly hôn thì ông Á có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Hoàng Quế T1 và bà N1 có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Hoàng Bảo T. Lời khai của cháu Nguyễn Hoàng Quế T1 xin được ở với bà N1 còn cháu Nguyễn Hoàng Bảo T2 xin được ở với ông Á. Xét thấy, nguyện vọng của bà N1 và ông Á phù hợp với nguyện vọng của hai con chung và không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần giao cháu Nguyễn Hoàng Quế T1 cho bà Á trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cháu Nguyễn Hoàng Bảo T cho ông Á được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Ông Nguyễn Văn Á và bà Hoàng Đắc Thanh N tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đề cập giải quyết.
[2.3].Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
[3]. Về án phí: Bà Hoàng Đắc Thanh N phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật. Được khấu trừ vào số tiền bà N đã nộp tạm ứng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Điều 144, Điều 147; khoản 1 Điều 227, Điều 228 Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng: Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Đắc Thanh N,
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Đắc Thanh N được ly hôn với ông Nguyễn Văn Á.
-
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Quế T1, sinh ngày 06/10/2008 cho bà Hoàng Đắc Thanh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cháu Nguyễn Hoàng Bảo T, sinh ngày 01/6/2014 cho ông Nguyễn Văn Á được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Ông Nguyễn Văn Á và bà Hoàng Đắc Thanh N không yêu cầu, Tòa án không đề cập giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu, Tòa án không đề cập giải quyết
- Về án phí: Nguyên đơn bà Hoàng Đắc Thanh N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0005229 ngày 01/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mai |
Bản án số 190/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 190/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Đắc Thanh Nguyệt được ly hôn với ông Nguyễn Văn Ánh. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Quế Trân, sinh ngày 06/10/2008 cho bà Hoàng Đắc Thanh Nguyệt trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi và giao cháu Nguyễn Hoàng Bảo Trâm, sinh ngày 01/6/2014 cho ông Nguyễn Văn Ánh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng tiền nuôi con chung: Ông Nguyễn Văn Ánh và bà Hoàng Đắc Thanh Nguyệt không yêu cầu, Tòa án không đề cập giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên tự thỏa thuận không yêu cầu, Tòa án không đề cập giải quyết
