Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2024/HS-ST

Ngày: 18/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Vinh

2. Ông Nguyễn Đức Thành

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Bà Chử Thị Kim Quy - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 183/2024/TLST-HSST ngày 27/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2024/QĐXXST-HS ngày 30/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HS ngày 12/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quang M, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2003; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Hà Nội; Nơi đăng kí HKTT và nơi cư trú: tổ A, phường L, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên bố: Nguyễn Minh T (sinh năm 1967); Họ tên mẹ: Lê Thị L (sinh năm 1975); Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

D chỉ bản số 367 lập ngày 31/5/2024 tại Công an huyện T, thành phố Hà Nội

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 23/5/2024, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn ngày 31/5/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Cháu Lưu Việt T1, sinh ngày 01/02/2008

HKTT: Số 11, ngõ 156, phố Lê Trọng Tấn, phường Khương Mai, quận Thanh Xuân, Hà Nội

Chỗ ở: Số 19, xóm Giếng, thôn Cổ Điển A, xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Đại diện hợp pháp của cháu T1: anh Lưu Việt S, chị Lưu Thị Mai H (bố mẹ đẻ của cháu T1) (xin vắng mặt)

Cùng trú tại: Số A, xóm G, thôn C, xã T, huyện T, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng giữa tháng 04/2024, Nguyễn Quang M tạo một tài khoản mạng xã hội facebook lấy tên sử dụng là “Nguyen Nhi”, đăng nhập bằng tài khoản đăng nhập là “thanggg1123@gmail.com”, mật khẩu đăng nhập là “minhhu5b” giả là con gái để kết bạn, nhắn tin với các tài khoản facebook là nam giới với mục đích sau khi trò chuyện sẽ yêu cầu người trò chuyện cùng thủ dâm (kích thích vào bộ phận sinh dục) rồi quay lại video. Sau đó, M sẽ sử dụng những video này để đe dọa đăng lên các trang mạng xã hội nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Trong thời gian này, M đã sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook trên kết bạn với tài khoản facebook có tên là “Lưu Việt T1”, đăng nhập bằng tài khoản đăng nhập là “luutrung134@gmail.com”, mật khẩu đăng nhập là “satthukill11@” của Lưu Việt T1 (sinh ngày 01/02/2008, địa chỉ: số A Xóm G, Cổ Điển A, T, T, Hà Nội) để trò chuyện. Sau khi trò chuyện được khoảng 03 (ba) ngày thì M yêu cầu T1 tự quay video thủ dâm (kích thích vào bộ phận sinh dục) rồi gửi cho M xem khoảng 04-05 đoạn video trong thời gian khoảng 5-10 phút thì T1 tự xóa (thu hồi) lại những video đó. Khoảng vài ngày sau, M và T1 gọi điện thoại video qua phần mềm Messenger của mạng xã hội facebook với mục đích để biết mặt nhau; quá trình gọi điện T1 mở camera còn M tắt camera để T1 không biết M là nam giới. Sau đó, M bảo T1 tự cởi quần áo và dùng tay kích thích vào bộ phận sinh dục để M xem thì T1 đồng ý. Quá trình này, M đã vừa xem vừa sử dụng chiếc điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh dương của mình quay lại cảnh T1 kích thích vào bộ phận sinh dục bằng cách ghi lại màn hình của điện thoại. Sau đó vài ngày, M tiếp tục yêu cầu T1 gọi video Messenger rồi kích thích bộ phận sinh dục để quay lại video (tổng cộng M đã ghi lại màn hình và lưu giữ được 03 đoạn video của T1 trong điện thoại của mình). Sau đó, T1 cũng bảo M quay lại video kích thích bộ phận sinh dục của M để gửi cho T1 xem (vì T1 vẫn nghĩ M là nữ giới). M không đồng ý đồng thời đe dọa T1 nếu muốn Minh xóa các video trước đó thì phải chuyển cho M số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) nhưng T1 nói không có đủ tiền. Cả hai tiếp tục nói chuyện với nhau thì lúc này M mới thừa nhận với T1: M là nam giới và bắt đầu sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook tên “Quang M”, đăng nhập bằng tài khoản đăng nhập là “0866650601”, mật khẩu đăng nhập là “mengggA2” để nói chuyện với tài khoản facebook “Lưu Việt T1” của T1 để đe dọa và yêu cầu T1 phải chuyển số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) thì mới xóa các video mà M đã quay lại trước đó. M gửi cho T1 số tài khoản 0866650601 mang tên NGUYEN QUANG MINH tại ngân hàng M2 để Trung chuyển tiền. Do lo sợ hình ảnh nhạy cảm của mình bị phát tán lên mạng nên T1 đồng ý chuyển tiền cho M nhưng do T1 không có đủ số tiền mà M yêu cầu nên xin M cho T1 đưa tiền trong thời gian 02 tháng. Ngày 22/04/2024, T1 đã chuyển vào tài khoản của M số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng); đến ngày 14/05/2024, T1 tiếp tục chuyển cho M số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng); cả hai lần chuyển tiền trên T1 đều thực hiện giao dịch qua ứng dụng ví điện tử momo tại nhà ở thôn C A, T, T, Hà Nội. Sau đó, M tiếp tục yêu cầu chuyển tiền nên ngày 18/05/2024, T1 gặp M tại quán B ở địa chỉ số A đường L, phường L, H, Hà Nội và đưa cho M số tiền là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Ngày 20/5/2024, M không đồng ý cho T1 kéo dài thời gian đưa tiền nên khoảng 22 giờ 00 phút ngày 22/05/2024, T1 đến khu vực đối diện quán B ở địa chỉ số A đường L, phường L, H, Hà Nội đưa nốt số tiền 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm nghìn đồng) cho M thì bị tổ công tác Đ - Công an huyện T phát hiện yêu cầu M về trụ sở để làm việc.

Tổ công tác thu giữ của Nguyễn Quang M: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS 29M1-368.80 (đã qua sử dụng); 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max 256GB màu xanh dương (đã qua sử dụng) và số tiền 2.380.000 đồng (hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Nguyễn Quang M khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của Nguyễn Quang M phù hợp với lời khai của người bị hại là cháu Lưu Việt T1 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bản thân M mới sử dụng những video trên để đe dọa T1, chưa đăng bài, phát tán hay chia sẻ cho anh.

Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max 256GB màu xanh dương tạm giữ của Nguyễn Quang M, quá trình điều tra xác định là tài sản của M liên quan đến hành vi phạm tội nên tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 2.380.000 đồng (hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) tạm giữ của Nguyễn Quang M: là số tiền M chiếm đoạt của cháu T1 nên ngày 30/5/2024 Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trao trả số tiền trên cho cháu T1, cháu T1 đã nhận lại tiền và không có ý kiến gì.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS 29M1-368.80 tạm giữ của Nguyễn Quang M: thuộc sở hữu của chị Ngô Thị T2. Chị T2 không biết việc M mượn chiếc xe trên của chị T2 để đi thực hiện hành vi Cưỡng đoạt tài sản nên ngày 14/8/2024 Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trao trả chiếc xe trên cho chị T2, chị T2 đã nhận lại xe và không có ý kiến gì.

Về dân sự: gia đình cháu T1 đã nhận lại toàn bộ số tiền mà Nguyễn Quang M chiếm đoạt của cháu T1 và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho M, không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 181/CT-VKSTT ngày 26/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố Nguyễn Quang M về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã công bố. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật và ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa có quan điểm: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Quang M về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 12 đến 14 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Về dân sự: gia đình cháu T1 đã nhận lại toàn bộ số tiền mà Nguyễn Quang M chiếm đoạt của cháu T1 và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho M, không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không xem xét.

Về vật chứng:

- Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max 256GB màu xanh dương tạm giữ của Nguyễn Quang M.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng giữa tháng 04/2024, Nguyễn Quang M tạo một tài khoản mạng xã hội facebook lấy tên sử dụng là “Nguyen Nhi” giả là con gái để kết bạn, nhắn tin nói chuyện với tài khoản facebook “Lưu Việt T1” của cháu Lưu Việt T1. Sau một thời gian trò chuyện, M yêu cầu cháu T1 tự kích thích vào bộ phận sinh dục của mình cho M xem qua phần mềm Messenger của mạng xã hội facebook rồi quay lại video và sử dụng những video đó để uy hiếp tinh thần cháu T1, chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).

Cháu T1 đã chuyển tiền cho M 04 lần, trong đó 02 lần chuyển tiền qua tài khoản ví điện tử M1 tại thôn C, T, T, Hà Nội; 02 lần đưa tiền tại khu vực quán B-a ở địa chỉ số A đường L, phường L, H, Hà Nội.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Quang M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã trả lại tiền cho bị hại nên bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51. Bị cáo có ông ngoại được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo phạm tội lần đầu nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm hình sự và biện pháp chấp hành hình phạt:

Bị cáo Nguyễn Quang M có đủ năng lực, nhận thức để biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ tư cách đạo đức kém và muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, bị cáo đã cưỡng đoạt tài sản. Bị hại là cháu T1 chưa đủ 18 tuổi, nhưng bị cáo dùng thủ đoạn giả làm nữ giới để thu thập các đoạn clip liên quan đến tình dục, uy hiếp tinh thần của cháu T1, gây ảnh hưởng đến tâm sinh lý của cháu T1. Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm quyền sở hữu tài sản và trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 170 Bộ luật hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: gia đình cháu T1 đã nhận lại toàn bộ số tiền mà Nguyễn Quang M chiếm đoạt của cháu T1 và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho M, không có yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max 256GB màu xanh dương tạm giữ của Nguyễn Quang M, là tài sản của M liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công.

- Đối với số tiền 2.380.000 đồng (hai triệu ba trăm tám mươi nghìn đồng) tạm giữ của Nguyễn Quang M: là số tiền M chiếm đoạt của cháu T1 nên Công an huyện T đã trao trả số tiền trên cho cháu T1, cháu T1 đã nhận lại tiền và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS 29M1-368.80 tạm giữ của Nguyễn Quang M: thuộc sở hữu của chị Ngô Thị T2. Chị T2 không biết việc M mượn chiếc xe trên của chị T2 để đi thực hiện hành vi Cưỡng đoạt tài sản nên Công an huyện T đã trao trả chiếc xe trên cho chị T2, chị T2 đã nhận lại xe và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7] Án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang M phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang M 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2024 đến ngày 31/5/2024.

  3. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
  4. Xử lý vật chứng của vụ án:
    • - Tịch thu sung công 01 chiếc điện thoại Iphone 12 Pro Max 256GB màu xanh dương số Imei: 350888743211637 tạm giữ của Nguyễn Quang M hiện được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/9/2024 ký giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì.
  5. Án phí và quyền kháng cáo:
    • - Áp dụng: Điều 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
    • - Áp dụng: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN VĂN THẮNG

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - CA huyện Thanh Trì;
  • - THADS huyện Thanh Trì;
  • - Bị cáo; Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 190/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger