|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số:190/2023/HSST Ngày: 28/12/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Sơn và bà Hoàng Thị Thủy
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thế Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 26 và ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:160/2023/HSST, ngày 20 tháng 11 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Hội H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/10/1993 tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Hội H1, sinh năm 1969 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1973; Anh, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;Vợ: Đậu Thị K, sinh năm 2000 (đã ly hôn); Con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: ngày 28/4/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt ngày 26/3/2021; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vũ Thị Hà V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 02/7/2003 tại tp ., tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm T, xã H, tp ., tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Vũ Trọng T, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Hồng V1, sinh năm 1982; Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Phan Quốc T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/12/2000 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phan Quốc T2, sinh năm 1969 và bà Trần Thị H2, sinh năm 1976; Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Trần Cảnh T3; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/9/1992 tại tp ., tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm X, xã N, tp ., tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn H3 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1971; Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 12/7/2010 bị Tòa án nhân dân tp. Vinh xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 26 tháng 16 ngày về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 23/8/2016 bị Tòa án nhân dân tp. Pleiku xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chấp hành xong hình phạt ngày 27/4/2018.
Ngày 27/8/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chấp hành xong toàn bộ bản án ra tù ngày 15/4/2021. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Trần Cảnh H5; Tên gọi khác: Không: Giới tính: Nam; Sinh ngày: 20/8/2001 tại tp ., tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm X, xã N, tp ., tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 ; Con ông Trần Văn S, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; Anh, chị, em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Đặng Thị Thu T4, sinh năm 2002; Con: 01 con sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Lê Thị Phương T5;Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 20/11/2003 tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: T, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lê Hội H1, sinh năm 1969 và bà Vũ Thị N, sinh năm 1973; Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị can là con thứ ba trong gia đình; Chồng: Chưa có; Con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/7/2023 đến ngày 15/7/2023 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
7. Họ và tên: Nguyễn Thị H6; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 26/8/2000 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm F, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Xuân H7, sinh năm 1973 và bà Võ Thị L1, sinh năm 1977; Anh, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Chồng: Nguyễn Văn T6 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Trần Văn S, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Xóm X, xã N, TP V, tỉnh Nghệ An (có mặt).
- + Hồ Thị Y, sinh năm 1996. Địa chỉ: Xóm E, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An (có mặt).
- + Nguyễn Thị C, sinh năm 1997. Địa chỉ: Khối H, phường N, thị xã C, Nghệ An (vắng mặt).
- + Nguyễn Thu T7, sinh năm 1997. Địa chỉ xóm M, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 30/6/2023, Lê Hội H đang ở thành phố V, tỉnh Nghệ An thì nảy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng, H gọi qua ứng dụng Telegram cho một số điện thoại mà trước đây bạn bè giới thiệu cho H biết người này có bán ma túy, H hỏi mua của người này tổng cộng 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng) ma tuý “Kẹo” và 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) ma túy Ketamin. Người này đồng ý và yêu cầu H chuyển khoản tiền mua ma túy. Sau đó, H đã đi tìm cửa hàng điện thoại nhờ chuyển khoản rồi báo địa chỉ cho người bán ma tuý là gửi ma tuý về khối A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An cho H. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 02/7/2023, khi H đang ở phòng trọ tại khối A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An thì có người gọi điện để nhận hàng. H nhận hàng và đưa về phòng trọ kiểm tra thì thấy có 01 (Một) gói nilon màu trắng chứa 90 (Chín mươi) viên ma tuý màu hồng và có 01 (Một) gói nilon màu trắng chứa ma túy Ketamin. Sau đó, H đã một mình sử dụng hết 04 (Bốn) viên ma tuý màu hồng và một ít ma túy Ketamin. Số ma túy còn lại, H cất giấu tại phía trên tấm lợp trần phòng trọ của H, mục đích để sử dụng.
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 04/7/2023, Phan Quốc T1, Nguyễn Thị H6, Vũ Thị Hà V, Lê Hội H, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Lê Thị Phương T5 và Phạm T8 có mặt tại phòng 605 khách sạn H8 (địa chỉ: Đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An) rồi bàn bạc nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, V nói: “Bây giờ ta đi chơi đồ ở mô cho an toàn”, nghĩa là V hỏi mọi người bây giờ đi sử dụng ma túy ở đâu cho an toàn. H nói: “Chơi Villa Mường Thanh diễn L2 chơi cho an toàn” thì mọi người đồng ý. Sau đó, Phan Quốc T1 gọi điện đặt phòng Villa Mường Thanh diễn L2 nhưng lúc này không ai nghe máy. H nói: “Bây giờ đi chơi thì mỗi người góp hai triệu để thuê phòng và mua ma túy sử dụng”, thì mọi người đồng ý. H nhận nhiệm vụ mua ma túy. Mọi người thống nhất: T3, H5, V, Phạm T8 sẽ đi ôtô của H5 đón chung rồi đi ra Mường T9 diễn L2 lấy phòng trước; Phan Quốc T1, H6, T5 sẽ đi taxi lấy loa, đèn ở phòng trọ của H6, còn H lấy ma túy rồi đón Y sau.
Sau khi bàn bạc xong, V gọi cho C để hẹn đón, H5 điều khiển xe ôtô nhãn hiệu Chevrolet Colorado màu trắng, biển kiểm soát 37C – 368.79 chở V, T3, H5, Phạm T8 đi đến chợ L7 thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An để đón C rồi đi ra khu S. Đến khoảng 00 giờ 00 phút, khi đến Khu S thì V đứng ra làm thủ tục thuê căn V2 số 114 và cọc trước số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng). Sau đó, V có gọi điện thoại để rủ Y và S1 đến để sử dụng ma tuý cùng, thì Y và S1 đồng ý.
Nhóm Phan Quốc T1, H, H6, T5 đi taxi về phòng trọ của H6 ở khối A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Khi đến nơi, Phan Quốc T1, H6, T5 đến phòng trọ của H6 để thay quần áo và lấy loa, đèn, còn H về phòng trọ của H gần đó lấy từ phía trên tấm lợp trần ra 06 (Sáu) viên ma tuý màu hồng bỏ vào một gói nilon màu trắng và lấy một ít ma túy K1 bỏ vào 01 (Một) gói nilon màu trắng, số ma túy còn lại H cất vào phía trên tấm lợp trần. H đưa ma túy vừa lấy cho T5 và nói: đưa cho Phan Quốc T1. Sau đó, H đi taxi về V1 đón Y, còn Phan Quốc T1 lấy 01 (Một) chiếc loa, 01 (Một) đèn nháy từ phòng trọ của H6 rồi cùng H6 và T5 đi xe taxi hướng về Villa M. Khi ở trên xe taxi thì T5 đưa cho Phan Quốc T1 02 (Hai) gói ma túy trên. Phan Quốc T1 cầm lấy 02 (Hai) gói ma túy đó ở lòng bàn tay phải rồi cùng H6, T5 tiếp tục đi taxi hướng ra Villa M. Trên đường đi thì V gọi điện thoại cho H6 nói là đã lấy phòng Villa rồi và bảo lên phòng Villa 114. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/7/2023, Phan Quốc T1, H6, T5 vào phòng Villa 114 M thì có V, T3, Phạm T8 đang nằm trong 1 phòng, H5, C đang nằm ở trong phòng khác. Phan Quốc T1 nhặt 01 (Một) thẻ ngân hàng A ở trong phòng rồi vào phòng của C và H5 đang nằm để 02 (Hai) gói ma túy, loa, đèn nháy, thẻ ngân hàng A ở trên bàn tivi. Sau khi mở loa và đèn thì Phan Quốc T1 lấy 03 (ba) viên ma túy “Kẹo” ra đưa cho H5 một viên ma túy, đưa T5 nửa viên ma tuý và đưa cho C nửa viên ma tuý, rồi qua đưa cho T3 01 (Một) viên ma tuý thì T3 cắn thành hai nửa rồi T3 sử dụng một nửa, còn một nửa T3 đưa cho Phạm T8. Lúc này, Phạm T8 nói do không có người chơi cùng nên Phạm T8 về trước. Khoảng 30 phút sau, mọi người có mặt tập trung ở phòng ngủ có loa, đèn, lúc này, Phan Quốc T1 lấy trong bàn uống nước phòng Villa một chiếc đĩa sứ màu trắng rồi lấy túi nilon chứa ma túy Ketamin ra đổ lên đĩa sứ và đốt giấy làm nóng đĩa sứ và dùng thẻ ngân hàng A làm nhỏ, mịn ma túy Ketamin ở trên đĩa sứ. Phan Quốc T1 kẻ nhiều đường ma túy Ketamin. T3 lấy từ trong túi xách của V ra tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) để đưa cho Phan Quốc T1 cuốn lại thành ống hút để sử dụng ma tuý Ketamin. Sau đó, Phan Quốc T1 cùng V, H6, H5, T3, T5, C sử dụng ma túy Ketamin bằng cách cuốn tròn tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) rồi hít bằng mũi từng đường ma túy ketamin trên đĩa sứ.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 05/5/2023, H đi xe taxi đến quán K2 ở xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đón Y và S1 để đi ra Villa M. Trên đường đi, S1 gọi điện thoại rủ bạn là S đi cùng và đón S ở đường Q đoạn rẽ vào khu S. Khoảng 03 giờ 00 phút cùng ngày, H, Y, S1 và S đến căn Villa 114 khu sinh thái Mường Thanh Diễn L3. Lúc này, V, T3, H5, H6, Phan Quốc T1, T5 và C đã sử dụng ma túy ngồi mỗi người một góc phòng. H, Y, S1 và S đi lại phía bàn có để đĩa chứa ma túy Ketamin và ma túy “Kẹo”, H lấy 01 (Một) viên ma tuý “Kẹo” cắn thành hai nửa rồi H sử dụng một nửa và đưa cho Y sử dụng nửa còn lại, còn S1 và S tự lấy các viên ma túy sử dụng. H tiếp tục kẻ ma tuý K1 có trên đĩa thành đường rồi dùng tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) cùng Y hít. S1 và S cũng tự sử dụng ma tuý Ketamin. Sau khi sử dụng xong thì cả nhóm nằm nghe nhạc tại phòng.
Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 05/7/2023 Phan Quốc T1 dậy và nói với H: “Em chuyển bốn triệu cho anh, có chi anh đưa cho V”, ý là T1 và và H6 góp tiền để tổ chức sử dụng ma túy như thống nhất từ trước, H đồng ý và đọc số tài khoản cho Phan Quốc T1 thì T1 dùng số tài khoản ngân hàng của H6 chuyển khoản số tiền 4.000.000 (Bốn triệu đồng) cho H, sau đó T1 tiếp tục vào phòng ngủ.
Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày thì T5, C, S1 và S về trước.
Đến khoảng 09 giờ 55 phút cùng ngày, sau khi nhận được trình báo của chị Nguyễn Thị Thu T10 (sinh năm 1993, trú tại xóm V, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An, là Giám đốc quản lý các căn villa), lực lượng Công an huyện D, tỉnh Nghệ An kiểm tra căn Villa số 114 khu S, phát hiện, bắt quả tang 07 (Bảy) đối tượng về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” gồm: Lê Hội H, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Vũ Thị Hà V, Nguyễn Thị H6, Hồ Thị Y. Thu giữ tại trên kệ đầu giường trong phòng ngủ hai giường căn V khu S (Một) gói nilon màu trắng, bên trong có bám dính ma túy K1; thu giữ tại trên bàn để T11 trong phòng ngủ hai giường căn V khu S: 01 (Một) đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 30 cm, trên mặt đĩa có bám dính ma túy Ketamin, ngoài ra trên mặt đĩa còn có 01 (Một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) có mã số hiệu VZ 22431074, được cuộn thành ống hút, bên trong có bám dính ma túy K1 và 01 (Một) thẻ nhựa cứng in chữ A và dòng số 4200030007205765, trên cả hai mặt thẻ có bám dính ma túy K1. Sau đó, Tổ công tác niêm phong vật chứng thu giữ rồi tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi đưa các đối tượng về trụ sở Công an huyện D, tỉnh Nghệ An để làm việc. (BL23-30)
Vào hồi 15 giờ 40 phút ngày 05/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Lê Hội H tại khối A, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Quá trình khám xét phát hiện, thu giữ tại trên tấm ốp trần chỗ ở của Lê Hội H 01 (Một) gói nilon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma tuý và 01 (Một) gói nilon màu trắng, bên trong có chứa 80 (Tám mươi) viên nén màu hồng có đặc điểm giống nhau nghi là ma tuý.
Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 05/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại xác định: Hội đồng không xác định được khối lượng các hạt tinh thể màu trắng, nghi là ma túy bám dính trong gói nilon màu trắng, trên mặt đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 30 cm, trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) có mã số hiệu VZ 22431074, được cuộn thành ống hút và trên cả hai bề mặt thẻ nhựa cứng in chữ A và dòng số 4200030007205765.
Vào ngày 06/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Thị Phương T5 về hành vi "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
Ngày 05/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An thành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại số ma túy thu giữ của Lê Hội H và số ma túy bám dính trên gói nilon màu trắng, mặt đĩa sứ hình tròn, tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng, trên thẻ nhựa cứng in chữ A thu giữ khi bắt quả tang. (BL182,183)
Tại Bản kết luận giám định số 779/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 13/7/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh N kết luận:
- + Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong gói nilon màu trắng, trên mặt đĩa sứ hình tròn màu trắng, trên tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) và trên thẻ nhựa cứng in chữ A thu giữ khi bắt quả tang các đối tượng Lê Hội H, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Vũ Thị Hà V, Nguyễn Thị H6, Hồ Thị Y gửi tới giám định đều là ma túy; loại Ketamine.
- + Mẫu các hạt tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Hội H gửi tới giám định là ma túy; loại Ketamine, có khối lượng là 3,2 gam (Ba phẩy hai gam).
- + Mẫu các viên nén màu hồng (Ký hiệu M2) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ của Lê Hội H gửi tới giám định là ma túy; loại MDMA. Số viên nén màu hồng (80 viên) thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Hội H có tổng khối lượng 25,7 gam (Hai mươi lăm phẩy bảy gam).
Ngày 05/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện D thành lập Hội đồng thu mẫu nước tiểu gửi giám định và test nhanh ma túy trong nước tiểu đối với Lê Hội H, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Vũ Thị Hà V, Nguyễn Thị H6, Hồ Thị Y và ngày 06/7/2003, Cơ quan CSĐT Công an huyện D thành lập Hội đồng thu mẫu nước tiểu gửi giám định và test nhanh ma túy trong nước tiểu đối với Lê Thị Phương T5.
Tại Bản kết luận giám định số 5076/KL-KTHS ngày 11/7/2023 của V5 Bộ C1 kết luận: Đều tìm thấy chất ma tuý Ketamine và MDMA trong các mẫu nước tiểu gửi giám định.(BL194)
Tại bản cáo trạng số 166/CT-VKS-P1, ngày 17/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Lê Hội H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Truy tố các bị cáo Vũ Thị Hà V, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Lê Thị Phương T5, Nguyễn Thị H6 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249 điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hội H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo:
- Lê Hội H từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 BLHS để tổng hợp hình phạt 02 tội đối với Lê Hội H. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 15 năm 09 tháng đến 16 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:
- Vũ Thị Hà V từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
3. Trần Cảnh T3 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
4. Nguyễn Thị H6 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:
- Lê Thị Phương T5 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, v khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:
- Phan Quốc T1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s, v khoản 1, Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:
- Trần Cảnh H5 từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều106 Bộ luật tố Tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 phong bì thư niêm phong bên trong chứa vật chứng thu giữ của Lê Hội H sau khi đã lấy mẫu giám định.
- 01 (Một) gói nilon màu trắng và 01 (Một) thẻ nhựa cứng in chữ A có dòng số 4200030007205765 được niêm phong trong 01 (Một) phong bì thư theo đúng quy định.
- 01 (Một) đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 30cm, được niêm phong trong 01 (Một) gói niêm phong theo đúng quy định.
- 01 (Một) chiếc loa nhãn hiệu Harman/Kardon màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 (Một) đèn nháy màu đen có chữ MP-10D, đã qua sử dụng.
Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS max màu trắng, số máy MT5WW2LL/A, số seri: FFXXCBAXKPHD, Imeil: 357277090630164 đã qua sử dụng, thu giữ của Phan Quốc T1.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14 pro max màu tím, số máy MQ9T3VN/A, số seri: DJ943RDW2, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị H6.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A8 màu đen, số seri: R59JC03HXY, Imeil: 351698090160991, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Cảnh T3.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 pro max màu xanh, số seri: NWP7NXP6G4, Imeil 1: 359811265774197, Imeil 2: 359811265177763, đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị Hà V.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS max màu đen, số máy MT5W2LL/A, số seri: F2LY4882KPHD, Imeil 1:353102100637013, Imeil 2: 353102100547139, đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Thị Y.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XR màu xanh, số máy MT3R2LL/A, số seri: F4GY25T2KXKV, Imeil: 353071101985020, Imeil 2: 353071102046434, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Cảnh H5.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13pro Max màu đen, số máy MLJ43VC/A, số seri: K9K4LJ2X2K, Imeil: 350249441391272, Imeil 2: 350249441337176, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Hội H.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12pro Max, imeil: 354860896110169, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Thị Phương T5.
Các vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện D.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng), có mã số hiệu VZ 22431074, được niêm phong trong một túi niêm phong mã số PS3A 041556. Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước D.
Truy thu sung công quỹ Nhà nước đối với Lê Hội H số tiền 4.000.000đồng mà bị cáo Phan Quốc T1 chuyển cho Lê Hội H là tiền dùng vào việc phạm tội.
Đối với 01 chiếc xe ôtô nhãn hiệu Chevrolet Colorado màu trắng, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 37C – 368.79 là xe của ông Trần Văn S (sinh năm 1970, trú tại xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An). Ông S không biết việc Trần Cảnh H5 sử dụng chiếc xe ôtô trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho ông S theo đúng quy định. Hội đồng xét xử không xem xét.
Các bị cáo phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh N và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về hoạt động “Điều tra” “Truy tố”, đồng thời đã giải thích và tạo điều kiện để bị cáo thực hiện đúng và đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Hội H, Vũ Thị Hà V, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Lê Thị Phương T5, Nguyễn Thị H6 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án, do đó đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 09 giờ 55 phút ngày 05/7/2023, tại căn villa số A khu S thuộc xóm I, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Lê Hội H, Vũ Thị Hà V, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Nguyễn Thị H6, Trần Cảnh H5 đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện D phát hiện bắt quả tang, ngoài ra phát hiện Lê Thị Phương T5 đồng phạm về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Quá trình khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Lê Hội H phát hiện thu giữ 3,2 gam ma túy Ketamine và 80 viên ma túy MDMA có tổng khối lượng 25,70 gam. Số ma túy này H cất giấu với mục đích sử dụng.
Hành vi của Lê Hội H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của BLHS và tội“ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS.
Hành vi của các bị cáo Vũ Thị Hà V, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Lê Thị Phương T5, Nguyễn Thị H6 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố các bị cáo Lê Hội H và Vũ Thị Hà V, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Lê Thị Phương T5, Nguyễn Thị H6 theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất vụ án: Xét vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước mà còn có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và làm băng hoại đạo đức xã hội, gây mật trật tự trị an trong xã hội. Các bị cáo biết, tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo lại đi mua để tổ chức sử dụng thể hiện tính xem thường pháp luật của các bị cáo.
Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm phòng ngừa chung tội phạm, bảo đảm trật tự kỷ cương xã hội.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của của hai tội đối với bị cáo Lê Hội H để bắt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.
[4]. Vụ án có tính chất đồng phạm nên cũng cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để cân nhắc quyết định hình phạt cho T12 bị cáo tương xứng hành vi phạm tội của các bị cáo.
Đối với Lê Hội H có nhân thân xấu là bị cáo cung cấp ma túy cho các đối tượng khác sử dụng, bị cáo phạm hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” do vậy H phải hủy mức án cao hơn bị cáo khác trong vụ án.
đối với Vũ Thị Hà V là người khởi xướng rủ rê các đồng phạm khác góp tiền chung nhau mua ma túy và tìm địa điểm thuê phòng để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy V phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác trong vụ án, nhưng sau H.
Đối với Trần Cảnh T3 nhân thân rất xấu: Ngày 12/7/2010 bị Tòa án nhân dân tp. Vinh xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 26 tháng 16 ngày về tội “Cố ý gây thương tích”.
Ngày 23/8/2016 bị Tòa án nhân dân tp. Pleiku xử phạt 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Ngày 27/8/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chứng tỏ bị cáo rất coi thường pháp luật, bản thân khó cải tạo lại là nghiện ma túy do vậy cũng cần cân nhắc một mức án cao hơn mức án của các bị cáo khác nhưng sau Vũ Thị Hà V.
Đối với Lê Thị Phương T5 người đã cung cấp 06 viên nên ma túy cho Phan Quốc T1 và đồng bọn cùng sử dụng nên cũng cần lên một mức án cao hơn các bị cáo H5, T1, H6, nhưng sau các bị cáo H, V, T3.
Các bị cáo H5, T1, H6 là những người đồng tình cao trong việc thống nhất cùng nhau chung góp tiền mỗi bị cáo 2.000.000đ và chuẩn bị phương tiện, đồ sử dụng trái phép chất ma túy nên cũng cần cân nhắc lên cho các bị cáo một mức án tương xứng hành vi phạm tội của các bị cáo.
[5] Về việc đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Tuy nhiên đối với các bị cáo Lê Hội H và Trần Cảnh T3 là những bị cáo có nhân thân xấu do vậy cũng cần cân nhắc xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo trong cùng vụ án.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo cáo Lê Hội H và Vũ Thị Hà V, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Lê Thị Phương T5, Nguyễn Thị H6 thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt cho các bị cáo.
Đối với Lê Hội H và Lê Thị Phương T5 là anh em trong cùng vụ án và có ông bà nội, ngoại được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến, Bằng khen, Giấy chứng nhận tham gia dân công Hỏa tuyến, là người có công với cách mạng nên cũng cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 BLHS để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Ngoài ra Lê Thị Phương T5 còn xuất trình 01 đơn xin xác nhận lập công cứu người nhưng chính quyền địa phương xã Q chỉ xác nhận nơi trú quán, không xác nhận thành tích nên không đủ cơ sở xem xét đối với tình tiết này.
Đối với Vũ Thị Hà V3 nhân thân chưa có tiền án tiền sự, bản thân bố mẹ ly hôn thiếu sự quan tâm chăm sóc, giáo dục nên lâm vào con đường phạm tội. Hội đồng xét xử cũng cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt Vy thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với Phan Quốc T1 nhân thân chưa có tiền án tiền sự, gia đình có ông nội Phan Văn V4 được nhà nước tặng thưởng Huy chương hạng Ba về thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cha Phan Văn T13 trong quá trình công tác được Bộ C1 tặng Kỷ niệm chương Bảo vệ an ninh Tổ quốc, ngoài ra quá trình sinh sống tại địa phương chưa vi phạm pháp luật lần nào đã có thành tính cứu người và được UBND xã Đ tặng Giấy khen đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo và xét xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối Trần Cảnh H5 nhân thân chưa có tiền án, tiền sự quá trình sinh sống tại địa phương cũng là công dân tốt và đã có thành tích trong công cuộc xây dựng nông thôn mới được chính quyền địa phương xác nhận ngoài ra trong thời gian dịch bệnh bản thân bị cáo cũng đã tham gia tích cực cùng chính quyền địa phương tham gia đóng góp vật chất, cũng như tinh thần vào việc chống dịch được chính quyền địa phương xác nhận, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo và xét xử dưới khung hình phạt đối với bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn. Hội đồng xét xử xét miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[7]. Đối với Hồ Thị Y (sinh năm 1996, nơi thường trú xóm E, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An) là người tham gia sử dụng trái phép chất ma túy cùng với các bị can trên, tuy nhiên, Y không tham gia việc bàn bạc, bố trí, sắp xếp, phương tiện, địa điểm, dụng cụ để thực hiện việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không cấu thành tội phạm. Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hồ Thị Y về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Hội H, do H không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với Phạm T8 là người tham gia việc bàn bạc, bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện, địa điểm, dụng cụ để thực hiện việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, S1, S là người tham gia sử dụng trái phép chất ma túy, do các bị can không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với Nguyễn Thị C (sinh năm 1997, nơi thường trú khối H, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An) là người tham gia sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã triệu tập C làm việc nhưng nhưng C không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Khu sinh thái Mường Thanh Diễn L3, Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã triệu tập làm việc với bà Nguyễn Thị Thu T10 (sinh năm 1993, nơi thường trú xóm V, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An) là Giám đốc quản lý các căn villa và ông Lê Văn L4 (sinh năm 1997, nơi thường trú xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) là lễ tân khu V. Bản thân bà T10 và ông Lưu k biết mục đích các đối tượng thuê căn villa 114 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, bà T10 khi phát hiện các đối tượng có nghi vấn đã chủ động trình báo Cơ quan Công an. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Khu sinh thái Mường Thanh Diễn L3.
[8]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều106 Bộ luật tố Tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì thư niêm phong bên trong chứa vật chứng thu giữ của Lê Hội H sau khi đã lấy mẫu giám định.
- 01 (Một) gói nilon màu trắng và 01 (Một) thẻ nhựa cứng in chữ A có dòng số 4200030007205765 được niêm phong trong 01 (Một) phong bì thư theo đúng quy định.
- 01 (Một) đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 30cm, được niêm phong trong 01 (Một) gói niêm phong theo đúng quy định.
- 01 (Một) chiếc loa nhãn hiệu Harman/Kardon màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 (Một) đèn nháy màu đen có chữ MP-10D, đã qua sử dụng.
Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS max màu trắng, số máy MT5WW2LL/A, số seri: FFXXCBAXKPHD, Imeil: 357277090630164 đã qua sử dụng, thu giữ của Phan Quốc T1.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14 pro max màu tím, số máy MQ9T3VN/A, số seri: DJ943RDW2, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị H6.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A8 màu đen, số seri: R59JC03HXY, Imeil: 351698090160991, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Cảnh T3.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 pro max màu xanh, số seri: NWP7NXP6G4, Imeil 1: 359811265774197, Imeil 2: 359811265177763, đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị Hà V.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS max màu đen, số máy MT5W2LL/A, số seri: F2LY4882KPHD, Imeil 1:353102100637013, Imeil 2: 353102100547139, đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Thị Y.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XR màu xanh, số máy MT3R2LL/A, số seri: F4GY25T2KXKV, Imeil: 353071101985020, Imeil 2: 353071102046434, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Cảnh H5.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13pro Max màu đen, số máy MLJ43VC/A, số seri: K9K4LJ2X2K, Imeil: 350249441391272, Imeil 2: 350249441337176, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Hội H.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12pro Max, imeil: 354860896110169, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Thị Phương T5.
Các vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện D.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng), có mã số hiệu VZ 22431074, được niêm phong trong một túi niêm phong mã số PS3A 041556. Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận tài sản và phiếu nhập kho ngày 06/9/2023.
Truy thu sung công quỹ Nhà nước đối với Lê Hội H số tiền 4.000.000đồng mà bị cáo Phan Quốc T1 chuyển cho Lê Hội H là tiền dùng vào việc phạm tội.
Đối với 01 chiếc xe ôtô nhãn hiệu Chevrolet Colorado màu trắng, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 37C – 368.79 là xe của ông Trần Văn S (sinh năm 1970, trú tại xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An). Ông S không biết việc Trần Cảnh H5 sử dụng chiếc xe ôtô trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả xe lại cho ông S theo đúng quy định. Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm n, khoản 2, Điều 249, điểm b, khoản 2, Điều 255 điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt:
- Bị cáo Lê Hội H 08 (tám) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 BLHS để tổng hợp hình chung của 02 tội. Buộc bị cáo Lê Hội H chấp hành hình phạt chung của hai tội là 15 (mười lăm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 05/7/2023.
- Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo:
- Trần Cảnh T3 08 (tám) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 05/7/2023.
- Vũ Thị Hà V 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 05/7/2023.
- Nguyễn Thị H6 07 (bảy) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 05/7/2023.
- Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo.
- Lê Thị Phương T5 07 (bảy) năm tù (Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/7/2023 đến ngày 15/7/2023) về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s, v khoản 1, Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo.
- Trần Cảnh H5 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 05/7/2023.
- Căn cứ điểm b, khoản 2, Điều 255, điểm s, v khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo.
- Phan Quốc T1 03 (ba) năm tù về tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 05/7/2023.
- Về xử lý vật chứng: Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì thư niêm phong bên trong chứa vật chứng thu giữ của Lê Hội H sau khi đã lấy mẫu giám định.
- 01 (Một) gói nilon màu trắng và 01 (Một) thẻ nhựa cứng in chữ A có dòng số 4200030007205765 được niêm phong trong 01 (Một) phong bì thư theo đúng quy định.
- 01 (Một) đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 30cm, được niêm phong trong 01 (Một) gói niêm phong theo đúng quy định.
- 01 (Một) chiếc loa nhãn hiệu Harman/Kardon màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 (Một) đèn nháy màu đen có chữ MP-10D, đã qua sử dụng.
Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS max màu trắng, số máy MT5WW2LL/A, số seri: FFXXCBAXKPHD, Imeil: 357277090630164 đã qua sử dụng, thu giữ của Phan Quốc T1.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 14 pro max màu tím, số máy MQ9T3VN/A, số seri: DJ943RDW2, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị H6.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy A8 màu đen, số seri: R59JC03HXY, Imeil: 351698090160991, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Cảnh T3.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 pro max màu xanh, số seri: NWP7NXP6G4, Imeil 1: 359811265774197, Imeil 2: 359811265177763, đã qua sử dụng thu giữ của Vũ Thị Hà V.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XS max màu đen, số máy MT5W2LL/A, số seri: F2LY4882KPHD, Imeil 1:353102100637013, Imeil 2: 353102100547139, đã qua sử dụng thu giữ của Hồ Thị Y.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone XR màu xanh, số máy MT3R2LL/A, số seri: F4GY25T2KXKV, Imeil: 353071101985020, Imeil 2: 353071102046434, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Cảnh H5.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13pro Max màu đen, số máy MLJ43VC/A, số seri: K9K4LJ2X2K, Imeil: 350249441391272, Imeil 2: 350249441337176, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Hội H.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12pro Max, imeil: 354860896110169, đã qua sử dụng thu giữ của Lê Thị Phương T5.
Các vật chứng nêu trên hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Chi cục THADS huyện D theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số 24NK14 ngày 20/11/2023 giữa Công an huyện D và Chi cục thi hành án huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (Một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng), có mã số hiệu VZ 22431074, được niêm phong trong một túi niêm phong mã số PS3A 041556. Cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện D, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao nhận tài sản và phiếu nhập kho ngày 06/9/2023.
Truy thu sung công quỹ Nhà nước đối với Lê Hội H số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng) mà bị cáo Phan Quốc T1 chuyển cho Lê Hội H là tiền dùng vào việc phạm tội.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14. Buộc các bị cáo cáo Lê Hội H và Vũ Thị Hà V, Phan Quốc T1, Trần Cảnh T3, Trần Cảnh H5, Lê Thị Phương T5, Nguyễn Thị H6, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án niêm yết hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Lâm |
Bản án số 190/2023/HSST ngày 28/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 190/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng ma túy
