TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 190/2023/HSST
Ngày 31 tháng 10 năm
2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Huyền.
Các Hội thẩm Nhân dân:
- Ông Nguyễn Quang Thái – Là giáo viên nghỉ hưu.
- Bà Lê Thị Bích Thuần – Là cán bộ hưu trí
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng- Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Ông Phó Văn Lợi- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 186/2023/HS-ST ngày 13 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thành L, sinh ngày 26/01/2002; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2023 đến nay (có mặt).
- Trần Mạnh D, sinh ngày 03/7/2006; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Đỗ Thị T1; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2023 đến nay (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị cáo D: Ông Trần Văn T (bố đẻ), sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện Y, tỉnh Yên Bái (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo D (bị cáo là người dưới 18 tuổi và thuộc hộ nghèo): Ông Lê Văn D1- Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thành L và Trần Mạnh D cùng làm nhân viên quán K ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng 19 giờ ngày 12/8/2023, L đang ở tổ dân phố Đ thì nhận được cuộc gọi từ Zalo tài khoản “Hạo Nam” của một người nam giới (L mới quen biết qua mạng xã hội và không biết tên, tuổi, địa chỉ) đến tài khoản Z “Nguyễn Thành L” hỏi mua 02 chỉ ma túy Ketamine. L đồng ý nói giá 4.000.000đ thì người này đồng ý và hẹn gặp nhau ở ven đường C thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Do chưa có sẵn ma túy để bán nên L gọi điện cho Trần Mạnh D qua ứng dụng M bảo D “Có lấy được 02 chỉ ke thì lấy về để bán cho khách kiếm lời, khi nào bán được thì đưa tiền sau”. D đồng ý và nói “Nếu được anh cho em 100.000đ nhé”. L đồng ý và bảo D khi nào mua được thì mang đến khu vực đường C gần quán K. Sau đó D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21D1- 032.19 (Duy mượn của L từ trước đó) đi đến ven hồ Đ thuộc xã N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc tìm và mua được 02 gói ma túy Ketamine với giá 1.600.000đ của một nam giới không quen biết rồi đến gặp và đưa ma túy cho L tại ven đường 310B. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày khi L và D đang đứng đợi người nam giới có tài khoản Z “Hạo Nam” đến mua ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tang vật thu giữ:
- T2 trong tay trái của L 01 gói nhỏ nilon màu trắng bên trong có 02 gói nhỏ nilon màu trắng có chứa các hạt tinh thể màu trắng L và M1 đều khai là ma túy (được niêm phong ký hiệu A1).
- Tạm giữ của Nguyễn Thành L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 vỏ màu xanh số IMEI: 352921113240346 bên trong lắp sim số 0978001691.
- Tạm giữ của Trần Mạnh D 01 điện thoại Iphone 7 vỏ màu trắng có IMEI: 359466087250387 bên trong có lắp sim số 0777654412; 01 xe mô tô nhãn hiệu Hoda Dream biển kiểm soát 21D1- 032.19.
Cùng ngày tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của L và D ở tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến vụ án.
Tại kết luận giám định số 2258/KL- KTHS ngày 16/8/2023 của Phòng K1- Công an tỉnh V kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có tổng khối lượng 1,7083g không kể bao bì là ma túy loại Ketamine. Hoàn trả 1,6327g chất tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói được niêm phong trong cùng một bao giấy “MẪU TRẢ VỤ 2133”.
Tại Cáo trạng số: 192/CT-VKSBX ngày 12/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố Nguyễn Thành L và Trần Mạnh D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 02 năm 09 tháng đến 03 năm 03 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 90; 91; Điều 101; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Mạnh D từ 01 năm 08 tháng đến 01 năm 10 tháng tù.
Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 1,6327g ma túy Ketamine cùng toàn bộ bao gói niêm phong trong “Mẫu trả” hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn L1 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 21D1- 032.19
Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 7 vỏ màu trắng thu giữ của Trần Mạnh D; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu xanh thu giữ của Nguyễn Thành L.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Mạnh D là ông Lê Văn D1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng gửi bản bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo; bị cáo là người dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế.
Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành L và Trần Mạnh D tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 12/8/2023, Tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an tỉnh V làm nhiệm vụ tại khu vực đường C thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành L và Trần Mạnh D mang 02 gói ma túy Ketamine có khối lượng 1,7083g đi bán cho một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 4.000.000₫
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thành L và Trần Mạnh D đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ là thu lời bất chính. Hiện tại trên địa bàn huyện B các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành phạm tội của mình nên được giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Trước khi phạm tội các bị cáo là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Mạnh D không bị áp dụng; bị cáo Nguyễn Thành L do xúi giục Trần Mạnh D (17 tuổi 01 tháng 09 ngày) thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về đồng phạm: Trong vụ án này Nguyễn Thành L là người khởi sướng và trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, Trần Mạnh D là đồng phạm giúp sức nhưng vì không có sự phân công, bàn bạc nên đây là đồng phạm giản đơn và các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm mà mình đã gây ra theo quy định tại Điều 58 của Bộ luật Hình sự.Đối với bị cáo Trần Mạnh D là người dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, ở lứa tuổi này do sự phát triển chưa đầy đủ về mặt tâm lý, chưa thể có suy nghĩ chín chắn trong các hành vi của mình dẫn đến có những sai phạm. Theo chính sách hình sự của Nhà nước được quy định trong Bộ luật Hình sự thì việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa lỗi lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có xã hội nên được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên theo quy định tại Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự. “Nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Đối với bị cáo Nguyễn Thành L quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
D2 bị cáo Trần Mạnh D là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 91 của Bộ luật Hình sự.
[5] Đối với những người có liên quan đến vụ án gồm:
Đối với người dùng tài khoản Z “H” hỏi mua ma túy của Nguyễn Thành L nhưng L không biết họ tên, tuổi, địa chỉ. Khi L bị bắt quả tang L chưa gặp người này nên chưa giao được ma túy. Cơ quan điều tra đã kiểm tra dữ liệu điện thoại nhưng chưa xác minh được danh tính nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với người bán ma túy cho Trần Mạnh D tại khu vực đường ven hồ Đ thuộc xã N, thành phố P nhưng D không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Về vật chứng: Đối với 1,6327g chất tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói cơ quan giám định hoàn trả cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu xanh thu giữ của Nguyễn Thành L; 01 điện thoại Iphone 7 vỏ màu trắng thu giữ của Trần Mạnh D, quá trình điều tra xác định: Các bị cáo dùng điện thoại này mua bán ma túy để kiếm lời, là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu để bán phát mại sung ngân sách nhà nước.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 21D1- 032. 19 mà L và D sử dụng để đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định là của ông Nguyễn Văn L1 (bố đẻ L) cho L mượn nhưng không biết các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần trả lại cho ông L1 là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Mạnh D không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm (bị cáo là hộ nghèo) theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/20162016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thành L và Trần Mạnh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/8/2023)
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trần Mạnh D 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/8/2023).
- Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy 1,6327g chất tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn trả.
- Tịch thu để bán phát mại sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 vỏ màu xanh thu giữ của Nguyễn Thành L và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 vỏ màu trắng thu giữ của của Trần Mạnh D.
- Trả lại cho ông Nguyễn Văn L1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 21D1- 032.19
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Mạnh D có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./.
Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
Nguyễn Quang Thái Lê Thị Bích T3 | Lê Nữ Hương H |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Nữ Hương Huyền |
Bản án số 190/2023/HSST ngày 31/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 190/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
