TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 190/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19/4/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Cẩm Bình;
- Ông Huỳnh Hoàng Nam.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên tòa- Bà Nguyễn Thuý An- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 217/2023/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 về việc "Tranh chấp ly hôn và nuôi con "theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2024/QĐST - HNGĐ ngày 02 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Vũ Trường G, sinh năm 1981; Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang (anh G vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Đoàn Thị P, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp V, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (chị P vắng mặt lần 2 không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25/11/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn anh Trần Vũ Trường G trình bày:
Vào năm 2004, anh và chị Đoàn Thị P cùng nhau đi đến hôn nhân, trên cơ sở hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang ngày 24/12/2004.
Cuộc sống chung vợ chồng lúc đầu hạnh phúc nhưng sau đó thời gian đến năm 2010 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, thường hay xảy ra cự cải, không hợp nhau về tính tình và cách sống và cũng từ thời gian đó vợ chồng sống ly thân với nhau.
Nay anh xét thấy không còn tình cảm với chị P nữa nên quyết định ly hôn với chị Đoàn Thị P.
Về con chung: Trong quá trình chung sống anh và chị P có 02 người con chung tên Đoàn Thị Hồng L, sinh ngày 31/12/2007 và Đoàn Vũ Trường M, sinh ngày 03/3/2011, hiện nay cháu L đang sống cùng anh, còn cháu M đang sống cùng chị P.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Anh G xác định vợ chồng cũng không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay anh Trần Vũ Trường G yêu cầu:
- - Về hôn nhân: Xin ly hôn với chị Đoàn Thị P
- - Về con chung: Yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Đoàn Thị Hồng L, sinh ngày 31/12/2007 và không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con.
- Đồng ý giao con chung tên Đoàn Vũ Trường M, sinh ngày 03/3/2011 cho chị P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn chị Đoàn Thị P đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chị P đều không có mặt.
Tại phiên tòa anh G vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Chị P vắng mặt lần 2 không lý do.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tuy nhiên còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Trần Vũ Trường G.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Trần Vũ Trường G khởi kiện tranh chấp xin ly hôn với bị đơn chị Đoàn Thị P có địa chỉ ấp V, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.
Nguyên đơn anh Trần Vũ Trường G có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Đoàn Thị P đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử (HĐXX) tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Anh G và chị P kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn năm 2004 tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2010 anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo anh G nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp. Thực tế vợ chồng anh đã sống trong tình trạng ly thân trong thời gian từ năm 2010 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, chị P không có mặt theo thông báo để Tòa án tiến hành hòa giải, thể hiện chị không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng và tại phiên tòa hôm nay mặc dù chị P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh G và chị P đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh G yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị P để ổn định cuộc sống. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, anh G yêu cầu được ly hôn chị P là hoàn toàn phù hợp theo quy định pháp luật.
[3] Về quan hệ con chung: Anh G xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng anh có 02 con chung tên Đoàn Thị Hồng L, sinh ngày 31/12/2007 và Đoàn Vũ Trường M, sinh ngày 03/3/2011, hiện nay cháu L đang sống cùng với anh còn cháu M đang sống cùng chị P. HĐXX xét thấy từ khi vợ chồng anh G và chị P sống ly thân với nhau đến nay cháu L do anh G chăm sóc, nuôi dưỡng còn cháu M đang sống cùng chị P. Trong quá trình giải quyết vụ án anh G cũng có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L còn cháu M thì anh đồng ý tiếp tục giao cho chị P chăm sóc nuôi dưỡng đến khi trưởng thành (phù hợp theo nguyện vọng của các con). Do đó, xét thấy cần giao cháu L cho anh G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, còn cháu M thì giao cho chị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp và đảm bảo sự ổn định của các cháu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có giải thích cho anh G về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nhưng anh G xác định không yêu cầu chị P cấp dưỡng còn chị P thì không có văn bản ý kiến về việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc anh G không yêu cầu chị P cấp dưỡng là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập chị P đúng theo quy định pháp luật nhưng chị P vẫn vắng mặt không lý do nên Toà án không tiến hành hoà giải, đối chất về tài sản chung giữa anh G và chị P được. Hơn nữa anh G xác nhận anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, về phần tài sản chung HĐXX không xem xét nếu sau này các đương sự có yêu cầu thì đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
[6] Về nợ chung: Anh G cam kết không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[7] Xét ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì anh G phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trần Vũ Trường G và chị Đoàn Thị P.
- Về con chung:
Giao con chung tên Đoàn Thị Hồng L, sinh ngày 31/12/2007 cho anh G tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi (Phù hợp theo nguyện vọng của con).
Giao con chung tên Đoàn Vũ Trường M, sinh ngày 03/3/2011 cho chị P tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi (Phù hợp theo nguyện vọng của con).
Anh Trần Vũ Trường G và chị Đoàn Thị P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về nợ chung: Chị Đoàn Thị P không có ý kiến, anh Trần Vũ Trường G xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Anh Trần Vũ Trường G phải chịu tiền án phí sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 0007964 ngày 31 tháng 03 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang; anh G không phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Giồng Riềng; - Chi cục THADS huyện Giồng Riềng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Luân |
Bản án số 190/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 190/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xinly hôn giữa G và P
