Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 190/2024/HNGĐ-ST

Ngày 18/6/2024

V/v T/c Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Quốc Cường
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Hồ Cảnh
Ông Hồ Bá Võ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 116/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1990.

Địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, Nghệ An. Hiện đang ở: Số B, ngõ C, phố B, đường Đ, thành phố N Đài Loan. Vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1994. Nơi đăng ký HKTT trước khi xuất cảnh: xóm B, xã H, huyện H, Nghệ An. Hiện ở Đài Loan. Vắng mặt.

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị V.

Địa chỉ: xóm B, xã H, huyện H, Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai có xác nhận của Văn phòng K tại Đ, anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh L và chị Hoàng Thị T kết hôn tự nguyên và có đăng ký kết hôn Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, Nghệ An ngày 26/4/2017. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng về chung sống tại nhà bố mẹ anh L ở xã H. Thời gian vợ chồng sống hạnh phúc và có 01 con chung. Năm 2021, anh L đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Thời gian đầu vợ chồng vẫn quan tâm, liên lạc động viên nhau, nhưng phát sinh một số mâu thuẫn do khoảng cách địa lý. Ngày 03/8/2022, chị T cũng xuất khẩu lao động sang Đài Loan, nhưng mẫu thuẫn vợ chồng không những không được giải quyết mà lại càng trầm trọng, cả hai không còn sự quan tâm, chia sẻ và động viên nhau nữa. Hiện nay, anh L cũng không biết địa chỉ cụ thể của chị T ở Đài Loan, do vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Vì vậy, anh L làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Hoàng Thị T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 23/6/2018. Cháu Quỳnh N sống với ông bà nội từ nhỏ đến nay. Khi ly hôn anh L có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, trong thời gian anh đang ở nước ngoài gửi các cháu cho ông bà nội chăm sóc. Anh L không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía chị Hoàng Thị T: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu chị Hoàng Thị T có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án...cho chị Hoàng Thị T thông qua ông Hoàng Thế T2 và bà Hà Thị X là bố mẹ đẻ của chị Hoàng Thị T; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện chị Hoàng Thị T vẫn vắng mặt không có lý do. Theo trình bày của ông T2 thì chị T đang ở Đài Loan, vẫn liên lạc về với ông, bà qua điện thoại, nhưng không nói địa chỉ hiện tại của chị T ở đâu. Ông không có ý kiến gì với việc ly hôn của anh L, chị T.

Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 7814/QLXNC-P3 ngày 19/4/2024 của Cục Q – Bộ C: Chị Hoàng Thị T có thông tin xuất cảnh ngày 03/8/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

Ý kiến ông Nguyễn Văn T1, bà Hà Thị V1: Cháu Nguyễn Quỳnh N sống với ông bà từ nhỏ, hiện nay cháu N đang ở với ông bà. Nếu anh L, chị T ly hôn, ông bà nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu cho đến khi anh L về Việt Nam. Về công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu, ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị V không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đương sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn L, cho anh L được ly hôn với chị Hoàng Thị T; giao con chung của vợ chồng cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Nguyên đơn và bị đơn có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại tỉnh Nghệ An; hiện đều đang lưu trú tại Đài Loan. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, anh Nguyễn Văn L và chị Hoàng Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuộc sống, nhưng không được hàn gắn, giải quyết. Hai vợ chồng không còn cùng hướng đến xây dựng hạnh phúc. Khi biết anh L xin ly hôn tại Tòa án, chị T cũng đồng ý. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Nguyễn Văn L và chị Hoàng Thị T không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Nguyễn Văn L. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Nguyễn Văn L được ly hôn với chị Hoàng Thị T.

[2.2.] Về con chung: Anh L và chị T có 01 con chung là cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 23/6/2018. Hiện các cháu đang ở với bố mẹ anh L là ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị V. Ông V, bà T1 đồng ý nhận chăm sóc các cháu. Xét thấy, từ nhỏ cháu đã ở với bố và ông bà nội, hiện nay anh L đang ở nước ngoài, chị T cũng ở nước ngoài, vì vậy cần giao các cháu cho anh L nuôi dưỡng, chăm sóc. Do anh L đang ở nước ngoài nên ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị V nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu cho đến khi anh L về Việt Nam. Về công sức trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu, ông Nguyễn Văn T1, bà Võ Thị V không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: Anh L, chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[2.3] Tài sản chung, nợ: Anh Nguyễn Văn L chưa yêu cầu giải quyết và chị Hoàng Thị T cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Đương sự có quyền khởi kiện theo quy định.

[3]. Về án phí: Anh Nguyễn Văn L phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, điểm d, khoản 1 Điều 469 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 82, 83, 84 Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn L.

[1] Quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn L được ly hôn với chị Hoàng Thị T.

[2] Con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Quỳnh N, sinh ngày 23/6/2018 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Do anh L đang ở nước ngoài nên ông Nguyễn Văn T1 và bà Võ Thị V (bố mẹ đẻ của anh L) nhận trách nhiệm trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Quỳnh N chu đáo cho đến khi anh L về Việt Nam.

Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.

[3] Về tài sản: Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn theo quy định pháp luật.

[4] Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012750 ngày 02/4/2024.

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:

Anh Nguyễn Văn L, chị Hoàng Thị T đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Ông Nguyễn Văn T1, bà Hà Thị V1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu HSVA. TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quốc Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 190/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hon Luc Tra
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger