TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 190/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-6-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Thiều Thị Phi Loan
Ông Trần Văn Chánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 348/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/5/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1984;
- - Bị đơn: Ông Ngô Minh K, sinh năm 1984;
- Cùng địa chỉ: B, Tổ B, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà B có đơn xin xét xử vắng mặt; ông K vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản khai và theo biên bản hòa giải tại Tòa án, nguyên đơn – Bà Huỳnh Thị B, trình bày:
Bà và ông Ngô Minh K tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ngày 05/8/2009, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn hòa hợp, yêu thương nhau. Nay bà xác định tình cảm không còn, hôn nhân không đạt được mục đích nên xin ly hôn với ông Ngô Minh K.
Về con chung: Bà và ông K có 01 con chung là cháu Ngô Huỳnh Phương L, sinh ngày 31/12/2011. Ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L. Tạm thời, không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – Ông Ngô Minh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để làm việc và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử và những tham gia tố tụng: Thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị B; về con chung: Giao cháu Ngô Huỳnh Phương L, sinh ngày 31/12/2011 cho bà B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; tạm thời, ông K không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn, ông K có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở; về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về nợ chung: Không xem xét giải quyết; về án phí: bà Huỳnh Thị B phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Bà Huỳnh Thị B xin ly hôn ông Ngô Minh K. Theo biên bản xác minh ngày 19/3/2024 thể hiện, ông Ngô Minh K có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ B, Tổ B, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng cho bà B, ông K. Tuy nhiên, bà B có đơn xin xét xử vắng mặt, ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị B và ông Ngô Minh K tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ngày 05/8/2009, trên cơ sở hôn nhân tự nguyện nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo các Điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà B là có cơ sở chấp nhận vì:
Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc. Thực tế, theo như bà B trình bày, quá trình chung sống, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm và tính cách, không còn tôn trọng lẫn nhau. Bà B nhận thấy cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên bà xin được ly hôn với ông K.
Tòa án đã tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa bà B và ông K. Theo biên bản xác minh mâu thuẫn ngày 05/4/2024 thể hiện, địa phương không biết thông tin mâu thuẫn vợ chồng do bà B, ông K không trình báo với địa phương hay yêu cầu địa phương giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông K theo quy định nhưng ông K không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình, điều đó cho thấy ông K đã bỏ mặc hôn nhân của mình không muốn hàn gắn lại với bà B.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà B và ông K đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng. Ông K cũng không tích cực trong việc hàn gắn, níu kéo mối quan hệ vợ chồng với bà B, thể hiện ở sự bỏ mặc, không đến Tòa án để làm việc, hòa giải, xét xử khi bà B nộp đơn khởi kiện xin ly hôn.
Do đó, Tòa án căn cứ vào các điều 51, 54, 56, 57, 58 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho bà Huỳnh Thị B được ly hôn với ông Ngô Minh K.
[3.2] Về con chung: Bà B khai trong quá trình chung sống, bà và ông K có 01 con chung là cháu Ngô Huỳnh Phương L, sinh ngày 31/12/2011. Ly hôn, bà B đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L. Tạm thời, không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy, bà B có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung. Về phía ông Ngô Minh K, ông K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến về vấn đề con chung. Tại bản tự khai, cháu L thể hiện nguyện vọng sau khi ba mẹ ly hôn, cháu L muốn ở với mẹ.
Do đó, để đảm bảo sự ổn định và phát triển tốt nhất cho trẻ, Tòa án giao cháu Ngô Huỳnh Phương L, sinh ngày 31/12/2011 cho bà Huỳnh Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành, có khả năng lao động. Tạm thời, ông Ngô Minh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[3.3] Về tài sản chung: Bà B xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét; ông K không đến Tòa án làm việc, không có lời trình bày tại Tòa án nên không đặt ra xem xét.
[3.4] Về nợ chung: Bà B trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét; ông K không đến Tòa án làm việc, không có lời trình bày tại Tòa án nên không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Bà Huỳnh Thị B phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 205; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng các điều 9, 11, 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000;
Áp dụng các điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị B.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị B được ly hôn với ông Ngô Minh K.
- Về con chung:
- Giao cháu Ngô Huỳnh Phương L, sinh ngày 31/12/2011 cho bà Huỳnh Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; tạm thời, ông Ngô Minh K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Ông K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
- Bà Huỳnh Thị B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định. Trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà B đã nộp theo biên lai thu số 0002469 ngày 19/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, bà B đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bà Huỳnh Thị B và ông Ngô Minh K được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hồng Duyên |
Bản án số 190/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 190/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị B + Ngô Minh K - Tranh chấp ly hôn
