|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 190/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/7/2024
V/v tranh chấp “Xin ly hôn và nuôi con chung”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Dũng
- 2. Bà Âu Thị Ngọc Hoa
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Công Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLST–HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Duy M, sinh năm: 1981.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Cẩm T, sinh năm: 1985.
Địa chỉ: số A, Phạm Ngũ L, Khóm D, phường A, TP T, tỉnh Trà Vinh.
Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
( Anh M có mặt tại phiên tòa, chị T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 23/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Duy M trình bày:
- Anh và chị Lê Thị Cẩm T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2004, có đăng ký kết hôn, vợ chồng sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và đã tự cắt đứt quan hệ vợ chồng từ năm 2020 đến nay. Nguyên nhân do bất đồng ý kiến, vợ chồng thường hay cãi nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nay anh yêu cầu xin ly hôn chị T.
- Về con chung: Anh và chị T có 03 con chung tên Lê Minh H, sinh ngày 04/4/2005, Lê Ngọc Khánh B, sinh ngày 07/8/2010 và Lê Thị Tú A, sinh ngày 15/12/2015, hiện do chị T nuôi dưỡng.
Khi ly hôn anh đồng ý giao hết 03 con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung: Không có tài sản chung.
- - Về nợ chung: Không có nợ chung.
* Bị đơn chị Lê Thị Cẩm T không cung cấp ý kiến cũng như lời khai đối với việc kiện.
* Tại phiên tòa anh M vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như trên, chị T vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh M có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và con chung của anh và chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Bị đơn trong vụ án có nơi sinh sống tại huyện C, tỉnh Tiền Giang, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Về quan hệ tranh chấp: Anh M có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung của anh và chị T, nên xác định đây là tranh chấp Xin ly hôn và nuôi con chung theo quy định tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
- Anh Lê Duy M và chị Lê Thị Cẩm T xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A1, thị xã T, tỉnh Trà Vinh, theo Giấy chứng nhận kết hôn (Bản sao) số 53, quyển số 01, ngày 29/6/2004. Theo lời anh M khai vợ chồng sống đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn và đã tự cắt đứt quan hệ vợ chồng từ năm 2020 đến nay. Nguyên nhân do bất đồng ý kiến, vợ chồng thường hay cãi nhau.
- Chị T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo triệu tập hợp lệ để xét xử việc anh M xin ly hôn anh đến lần thứ hai, nhưng chị vẫn vắng mặt không lý do, đồng thời chị cũng không cung cấp ý kiến cũng như lời khai đối với việc kiện, như vậy chứng tỏ chị T cũng không quan tâm đến tình cảm vợ chồng giữa chị và anh M, đồng thời xem như chị từ bỏ quyền bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định tại các Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét yêu cầu xin ly hôn của anh M là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh M, cho anh M được ly hôn chị Lê Thị Cẩm T là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung:
- Anh M, chị T có 03 con chung tên Lê Minh H, sinh ngày 04/4/2005, Lê Ngọc Khánh B, sinh ngày 07/8/2010 và Lê Thị Tú A, sinh ngày 15/12/2015 hiện do chị T nuôi dưỡng.
Xét thấy, 03 con chung của anh chị có cháu Lê Minh H, sinh ngày 04/4/2005 đã thành niên, 02 con còn lại hiện do chị T nuôi dưỡng từ khi anh chị cắt đứt quan hệ vợ chồng đến nay đã ổn định, đồng thời tại phiên tòa anh M đồng ý giao hết 02 con chung tên Lê Ngọc Khánh B, sinh ngày 07/8/2010 và Lê Thị Tú A, sinh ngày 15/12/2015 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng, hội đồng xét xử ghi nhận và giao hết 02 con chung cho chị T được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị T vắng mặt, xem như chị không có yêu cầu, hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết. Nếu chị có yêu cầu thì được giải quyết bằng vụ án khác.
[2.3]. Về tài sản chung: Không có tài sản chung.
[2.4]. Về nợ chung: Không có nợ chung.
[3]. Về án phí: Anh M là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
- - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Duy M;
- - Cho anh Lê Duy M được ly hôn chị Lê Thị Cẩm T.
- Về con chung:
- - Ghi nhận sự tự nguyện của anh Lê Duy M;
- - Giao 02 con chung tên Lê Ngọc Khánh B, sinh ngày 07/8/2010 và Lê Thị Tú A, sinh ngày 15/12/2015 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra giải quyết, do chị T không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Không có nợ chung.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
- - Anh Lê Duy M chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014898 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, xem như anh M đã thi hành xong tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo:
- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Chị T được tính từ khi nhận dược bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Nhịn |
4
Bản án số 190/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 190/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: yêu cầu ly hôn nuôi con
