Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2024/HS-ST

Ngày 13-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Khắc Tân

Bà Hà Thị Nga

Thư ký phiên toà: Ông Trịnh Việt Anh, là Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thư, Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 9 năm 2024 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 194/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 743/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lương Văn P, sinh ngày 05 tháng 5 năm 1981 tại Nghệ An. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Y, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Minh P1 và bà Lương Thị P2; có vợ là Ngân Thị N; có 02 con; tiền án: Tại Bản án số 48/2012/HSST ngày 27/11/2012, Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (chưa xoá); tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 14/2018/HSST ngày 27/4/2018 Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xoá); bị bắt tạm giữ ngày 13/3/2024, tạm giam ngày 22/3/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 13/3/2024, tổ công tác Công an phường A, quận L, thành phố Hải Phòng làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số H Đ, phường A, quận L phát hiện Lương Văn P đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Păn 01 túi nilon màu trắng, kích thước 02x02cm, mép đóng mở viền màu xanh, bên trong có chứa bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy. Lực lượng Công an đã thu giữ vật chứng nghi là ma túy, 01 điện thoại nhãn hiệu Mobistar màu đen, 01 điện thoại Iphone màu vàng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng của P đưa về trụ sở Công an phường lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 293/KL-KTHS ngày 16/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,17 gam, loại Heroine”.

Lương Văn P khai nhận: Khoảng 09 giờ 45 phút ngày 13/3/2024, P đi bộ đến khu vực đường tàu Trần Nguyên H để mua ma túy sử dụng. Tại đây P gặp một nam giới không quen biết đeo khẩu trang (không rõ lai lịch địa chỉ) hỏi P “có chơi ma túy không để tao lấy cho” P đồng ý mua 200.000 đồng, thì nam giới bảo: “lên xe tao chở đi lấy, cho tao hai chục”. Păn ngồi sau xe nam giới chở vào ngõ D Đ, phường A, quận L khoảng 10m thì nam giới bảo P đứng chờ, còn nam giới đi sâu vào trong ngõ, P không rõ nam giới đi đâu. Một lúc sau, nam giới đi ra đưa cho P 01 túi nilon màu trắng, mép đóng mở màu xanh, kích thước 02x02cm, bên trong có chứa bột màu trắng dạng cục là H1. Păn lấy từ trong túi quần 200.000 đồng đưa cho nam giới, còn 20.000 đồng tiền công P chưa kịp đưa thì nam giới đã bỏ đi. Păn cầm gói ma túy ở bàn tay phải đi đến trước cửa nhà số nhà S Đ thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt giữ.

Tại bản cáo trạng số 193/CT-VKSLC ngày 21 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Lương Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung trên và khai không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định. Số tiền cơ quan Công an thu giữ là số tiền bị cáo trả công cho đối tượng đã mua hộ ma tuý nhưng chưa kịp trả thì bị bắt giữ.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lương Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Văn P mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Do bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 bì giấy theo niêm phong số 293MT/PC09 đựng số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của toàn bộ tang vật có chữ ký của những người liên quan.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 20.000đ thu giữ của bị cáo.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Mobistar màu đen có số IMEI là 352310024220722 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng có số IMEI là 354835099865454.

Đối với người nam giới bán ma túy cho Lương Văn P vào ngày 13/3/2024 do không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý; do vậy không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

- Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý:

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Khoảng 10 giờ 05 phút ngày 13/3/2024, tại khu vực trước cửa nhà số H Đ, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng, Lương Văn P có hành vi cất giữ trái phép 0,17 gam ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lương Văn P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.

[4] Bị cáo biết hành vi cất giữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do là đối tượng sử dụng ma tuý nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[5] Nhân thân bị cáo có 01 tiền án đến nay chưa được xoá: Tại bản án số 48/2012/HSST ngày 27/11/2012, Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2012, thi hành xong án phí hình sự và án phí dân sự ngày 27/11/2012, đối với khoản tiền bồi thường 21.306.000 đồng, P chưa thi hành; Kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "tái phạm" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có căn cứ chấp nhận.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo có bố đẻ là thương binh hạng 2/4; Kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ chấp nhận.

- Về nhân thân bị cáo:

[7] Ngoài ra nhân thân bị cáo còn có 01 tiền án đã xoá: Tại Bản án số 14/2018/HSST ngày 27/4/2018 Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/12/2018, thi hành xong án phí ngày 27/4/2018.

- Về hình phạt áp dụng:

[8] Từ những phân tích trên cần áp dụng hình phạt nghiêm buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung.

- Về hình phạt bổ sung:

[9] Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn; nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà.

- Về xử lý vật chứng:

[10] Lượng Heroin thu giữ của bị cáo có khối lượng 0,17g; sau khi lấy 0,07g đi giám định lượng còn lại và vỏ bao gói được niêm phong lại trong một bì giấy có dấu niêm phong số 293MT/PC09 và có chữ ký của những người liên quan; xét đây là vật cấm lưu hành, đối chiếu điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[11] Đối với số tiền 20.000đ thu giữ của bị cáo, bị cáo khai đây là tiền trả công cho đối tượng mua hộ ma tuý chưa kịp trả thì bị bắt giữ; xét đây là tiền liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, đối chiếu khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[12] Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Mobistar màu đen có số IMEI là 352310024220722 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng có số IMEI là 354835099865454 thu giữ của bị cáo; tài liệu điều tra chứng minh không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo khai là tài sản của bị cáo dùng để liên lạc với người thân; đối chiếu điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên trả lại bị cáo.

- Về án phí:

[13] Theo tài liệu trong hồ sơ do chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú cung cấp: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo cũng có đơn trình bày và xin miễn án phí; căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[14] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố Lương Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt: Lương Văn P 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 3 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy có dấu niêm phong số 293MT/PC09 và có chữ ký của những người liên quan bên trong đựng số ma túy còn lại cùng vỏ bao gói sau giám định.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 20.000đ (hai mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo.

Trả lại bị cáo 02 chiếc điện thoại di động: 01 điện thoại nhãn hiệu Mobistar màu đen có số IMEI là 352310024220722 và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng có số IMEI là 354835099865454.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận L và Chi cục thi hành án dân sự quận Lê Chân và theo Uỷ nhiệm chi ký hiệu: C4-02a/KB, số 55.2024/QĐ-CALC(HTTP) ngày 22/8/2024 giữa Công an quận L và Kho bạc Nhà nước quận L).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lương Văn P được miễn án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - Công an Quận Lê Chân + PV 06 + PC10;
  • - Trại tạm giam Công an Hải Phòng;
  • - Bị cáo + THAHS;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Sở tư pháp Hải Phòng;
  • - UBND xã Lục Dạ, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 190/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lương Văn P - TTTPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger