|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 190/2024/HS-ST Ngày: 06-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lương Việt Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Quang Chung
- Bà Nguyễn Thị Kim Chung.
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 181/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quang T, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1974 tại tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại: Số F đường N, phường T (nay là phường N), thành phố N, tỉnh Nam Định; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Trần Thị H; gia đình có 03 chị em, bị cáo là thứ ba; có vợ là Hoàng Thị H1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15-01-2024 Công an phường T (nay là phường N), thành phố N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; nhân thân: Ngày 23-02-2004 Công an thành phố N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 16-5-2017 bị TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; ngày 24-01-2022 Công an thành phố N xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi vận chuyển hàng cấm; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25-5-2024, chuyển tạm giam từ ngày 31-5-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N, có mặt.
* Người làm chứng: Ông Trần Mạnh H2, sinh năm 1965 và ông Phạm Văn T2, sinh năm 1970 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 24-5-2024, tổ công tác Công an phường T (nay là phường N), thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ E đường N, phường T (nay là phường N), thành phố N phát hiện Nguyễn Quang T đi xe đạp có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ tại tay trái của T 01 gói ni lông màu hồng, mở kiểm tra gói ni lông màu hồng, bên trong là giấy bạc màu vàng trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (T khai là H3 mua về để sử dụng). Tổ công tác cùng T và ông Trần Mạnh H2, ông Phạm Văn T2 là 02 người chứng kiến quá trình bắt giữ T tiến hành niêm phong vật chứng, sau đó đưa T và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường T (nay là phường N), thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Quang T. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Nguyễn Quang T 01 chiếc xe đạp màu hồng đã cũ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng đã thu giữ của Nguyễn Quang T. Bản kết luận giám định số 984/KL-KTHS ngày 30-5-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong lớp giấy bạc màu vàng (bên ngoài được gói bằng ni lông màu hồng), được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu: 0,268 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quang T khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 24-5-2024, T đi xe đạp một mình từ nhà đến khu vực đầu ngõ A đường T, phường V (nay là phường T), thành phố N thì gặp và hỏi mua heroin của một nam thanh niên (do bạn bè xã hội giới thiệu nên T không rõ lai lịch, địa chỉ của người này) với giá 100.000 đồng. Nam thanh niên đồng ý bán, nhận tiền rồi đưa cho T 01 gói heroin trong lớp giấy bạc màu vàng (bên ngoài được gói bằng ni lông màu hồng). Sau khi mua được ma túy, T cầm số ma túy trong tay trái rồi đạp xe tìm nơi sử dụng. Khi T đi đến khu vực đầu ngõ E đường N, thành phố N thì bị phát hiện, bắt giữ.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Quang T, hiện tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Đối với chiếc xe đạp màu hồng đã cũ là tài sản của bà Trần Thị H (mẹ đẻ của bị cáo), bà H không biết T mượn xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho bà Trần Thị H chiếc xe đạp này.
Bản Cáo trạng số 186/CT-VKS-TPNĐ ngày 15-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố Nguyễn Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Quang T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Quang T theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 27 tháng đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 984/KL-KTHS ngày 30-5-2024.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; biên bản mở niêm phong, giao nhận và cân khối lượng mẫu vật; biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại mẫu vật; bản kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 24-5-2024, tại khu vực đầu ngõ E đường N, phường T (nay là phường N), thành phố N, Nguyễn Quang T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,268 gam loại ma túy Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo:
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; mẹ đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T có 01 tiền sự (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt hành chính), nhân thân xấu nhưng bị cáo không chịu cải tạo mà lại tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật: Số ma túy trong phong bì niêm phong số 984/KL-KTHS ngày 30-5-2024 là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang T bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Căn cứ vào Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 5 năm 2024.
- Xử lý vật chứng, tài sản, đồ vật: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 984/KL-KTHS ngày 30-5-2024
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 258/YCN/2024 ngày 20-8-2024). - Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Bị cáo Nguyễn Quang T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. - Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Quang T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Nguyễn Quang T có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Việt Bằng |
5
Bản án số 190/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 190/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Tr phạm tội - Tàng trữ trái phép chất ma túy
