|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 190/2024/HS-ST Ngày: 06-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Bạn và bà Võ Thị Thu Thủy.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 198/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thành N, sinh năm 1991 tại tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký thường trú: 170A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị Kiều N2; có vợ tên Ngô Bích P, sinh năm 1989 và 02 người con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 15/3/2024, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Bích P, sinh năm 1989; địa chỉ: A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Anh T, sinh năm 1994. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14/3/2024, Nguyễn Thành N điều khiển xe mô tô biển số 61Z3-7116 đến ngã tư G thuộc thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp đối tượng tên T1 để mua ma túy với giá 1.200.000 đồng, T1 đưa cho N 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có 14 gói nylon nhỏ đều chứa tinh thể màu trắng, Nam cất giấu trong túi xách bằng vải màu đen đựng đồ cá nhân của N đem về nhà tại địa chỉ A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại nhà, N đã sử dụng hết 02 gói nylon nhỏ và tiếp tục cất giấu 12 gói còn lại trong túi xách để sử dụng dần. Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 15/3/2024, N điều khiển xe mô tô biển số 61Z3-7116 đi chơi, khi đi Nam tiếp tục đeo túi xách trên người, bên trong có chứa ma túy. Khi N đi trên đường N giao nhau với đường B thuộc khu phố B, phường B, thành phố T thì bị tổ tuần tra Công an phường B tuần tra phát hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Lúc này, N khai nhận có sử dụng ma túy và tự nguyện giao nộp 01 túi xách đựng đồ cá nhân của Nam bên trong có chứa các túi nylon có tinh thể màu trắng và khai nhận là ma túy đá của N cất giấu nhằm mục đích sử dụng nên tổ tuần tra tiến hành lập biên bản, niêm phong tang vật, đưa N về trụ sở làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 túi xách bằng vải màu đen; 01 xe mô tô biển số 61Z3-7116; 01 túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa 10 gói nylon hàn kín hai đầu, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1), cân xác định khối lượng: 2,1399 gam; 02 túi nylon miệng kéo dính, bên trong đều chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2), cân xác định khối lượng: 0,4767 gam; tổng cộng: 2,6166 gam.
Bản kết luận giám định số 1435/KL-KTHS(MT) ngày 22/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng/trọng lượng: M1 = 2,1399 gam; M2 = 0,4767 gam. Tổng cộng: 2,6166 gam.
Bản Cáo trạng số 183/CT-VKS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố Nguyễn Thành N về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
*) Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng và đề nghị căn cứ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thành N mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; tịch thu, tiêu số ma túy còn lại sau khi giám định và chiếc túi vải màu đen.
*) Bị cáo Nguyễn Thành N thừa nhận hành vi đã thực hiện như cáo trạng đã truy tố, nhận thức được là trái pháp luật; trong lời nói sau cùng bị cáo thể hiện ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Qua tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận mua và đang cất giữ trong người loại ma túy Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng, đang di chuyển trên đường thì bị kiểm tra, thu giữ. Theo kết luận giám định, số ma túy Methamphetamine của bị cáo tàng trữ có tổng khối lượng 2,6166 gam.
[3] Về lỗi của bị cáo: Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết được tác hại của ma túy và việc tàng trữ chất ma túy bị nghiêm cấm, nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích có ma túy sử dụng, thỏa mãn cơn nghiện.
[4] Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi cất giữ trái phép 2,6166 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo Nguyễn Thành N đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không gây oan sai cho bị cáo.
[5] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm an ninh, trật tự tại địa phương, gây nên sự nghiện ngập, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội và nhiều căn bệnh hiểm nghèo. Do đó, Viện kiểm sát truy tố, Tòa án nhân dân thành phố Thuận An đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và răn đe các đối tượng khác, phòng ngừa chung cho xã hội nhất là trong giai đoạn hiện nay tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau phạm tội có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[8] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt như nêu trên là có căn cứ, phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo.
[9] Đối với người thanh niên tên T1 đã bán ma túy cho Nguyễn Thành N hiện chưa xác định được nhân thân, địa chỉ. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển thông tin tội phạm cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra xác minh xử lý theo thẩm quyền.
[10] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số ma túy loại Methamphetamine sau giám định còn lại 2,5706 gam được niêm phong trong 01 bì thư bên ngoài ghi vụ số 1435/PC09 bên trong chứa ma túy là mẫu vật hoàn lại sau giám định của Phòng K Công an tỉnh B là chất cấm và 01 (một) túi xách bằng vải màu đen là công cụ Nguyễn Thành N sử dụng cất giấu ma túy cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 61Z3-7116 thu giữ của Nguyễn Thành N có nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Sirius, màu đen đỏ, số khung: 273151, số máy: 5C64-273157 do bà Ngô Bích P đứng tên chủ sở hữu. Làm việc với bà P xác định chiếc xe mô tô trên do bà P mua bằng tiền cá nhân trước khi đăng ký kết hôn với N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trả lại cho bà P là đúng quy định.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/3/2024.
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy loại Methamphetamine sau giám định còn lại 2,5706 gam được niêm phong trong 01 bì thư bên ngoài ghi vụ số 1435/PC09 có chữ ký của Nguyễn Thành N, Nhan Thái H, Mai Xuân T2, Nguyễn Hồng Đ, Trần Ngọc Thanh H1 có đóng dấu của Công an phường B và dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) túi xách vải màu đen.
(Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Vũ Trọng Quân |
Bản án số 190/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 190/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành N tàng trữ trái phép chất ma túy
