TÒA ÁN NHÂN DÂN VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 190/2024/DS-ST
Ngày 02/7/2024
Về việc: “Tranh chấp buộc thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Như Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Như Thủy
- 2. Bà Hồ Thị Lệ Thu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền - Kiểm sát viên
Trong ngày 26/06/2024 và ngày 02/07/2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 678/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp buộc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh”,
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2024/QĐXXST-DS ngày 14/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 69/2024/QĐXXST-DS ngày 14/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 79 /2024/QĐXXST-DS ngày 07/6/2024, giữa:
Nguyên đơn: Tổng công ty Cổ phần D1
Trụ sở: 36 Ông Í, quận C, TP Đà Nẵng
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H; Chức vụ: Tổng Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đặng Thị Cẩm L (có mặt) (Theo Giấy uỷ quyền ngày 28/03/2022 của Tổng công ty Cổ phần D1)
Bị đơn:
1. Ông Lê Tiến Đ, sinh ngày 10/08/1966 (vắng mặt)
Căn cước công dân số: [...] do Cục trưởng Cục Cảnh sát ĐKQL và DLQG về dân cư cấp ngày 06/6/2016.
1
Số CMND cũ: [...] do Công an T3 cấp ngày 20/05/2003
2. Bà Huỳnh Thị Mỹ D, sinh ngày: 08/6/1975 (vắng mặt)
Căn cước công dân số: [...] do Cục trưởng Cục Cảnh sát ĐKQL và DLQG về dân cư cấp ngày 06/6/2016.
Số CMND cũ: [...] do Công an Thành phố T3 cấp ngày 20/05/2003.
Cùng thường trú tại số A B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi là nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH D2
Địa chỉ: số D Lô Q, Cư xá Phú Lâm C, Khu Phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Thị Mỹ D, sinh năm 1975; Chức vụ: Giám đốc (vắng mặt)
Thường trú tại số 148/4 Bàu Cát 1, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bà Đỗ Thị Kim T, sinh năm 1972 (có đơn xin vắng mặt)
3. Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1966 (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số E Khu phố C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Tổng công ty Cổ phần D1 - có bà Đặng Thị Cẩm L trình bày:
Căn cứ bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”, giữa nguyên đơn Tổng Công ty Cổ phần D1 (từ đây gọi tắt nguyên đơn là công ty H2) và bị đơn Công ty TNHH D2 (từ đây gọi tắt là công ty D2). Theo đó, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã tuyên án chấp nhận yêu cầu của công ty H2, buộc công ty D2 phải có nghĩa vụ trả cho công ty H2 số tiền 5.560.066.530 đồng (Năm tỷ năm trăm sáu mươi triệu không trăm sáu mươi sáu nghìn năm trăm ba mươi đồng), trong đó tiền nợ 4.833.744.036 đồng, lãi là 726.322.494 đồng. Kể từ khi Bản án sơ thẩm số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng có hiệu lực pháp luật, công ty H2 đã có đơn yêu cầu thi hành án gửi Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, sau đó được ủy thác thi hành án cho Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay đang được Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nhận ủy thác và thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay công ty D2 không có khả năng chi trả và chúng tôi không liên lạc được với người đại diện theo pháp luật của công ty D2.
2
Trong quá trình mua bán giữa công ty H2 và công ty D2, để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của công ty D2, ông Lê Tiến Đ và vợ là bà Huỳnh Thị Mỹ D có ký hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/6/2016 (ông Lê Tiến Đ là đại diện pháp luật của công ty D2), theo đó ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D đồng ý dùng căn hộ chung cư tầng A6.2, KP Mỹ Khánh C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Lê Tiến Đ và bà Huỳnh Thị Mỹ D đứng tên chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 037302/HĐ-MBN do Ủy ban nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 9/12/2009, để bảo lãnh việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán số dư nợ phát sinh của hợp đồng kinh tế mua bán hàng hóa giữa công ty H2 và công ty D2. Hiện công ty H2 giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của căn nhà nói trên và đang quản lý tài sản, giữ chìa khóa nhà, sư dụng tài sản này.
Căn cứ mục a, khoản 2, Điều 3 quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/6/2016 nói trên, bên nhận bảo lãnh là công ty H2 được quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật khi công ty D2 không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn.
Để bảo đảm quyền lợi chính đáng của mình, nay công ty H2 làm đơn này, kính yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết buộc bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh theo như cam kết tại hợp đồng bão lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/6/2016, phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ của công ty D3 đạt theo bản án số 01/2019/KDTM- ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đ, tổng cộng: 7.647.023.921 (bảy tỷ sáu trăm bốn mươi bảy triệu không trăm hai mươi ba nghìn chín trăm hai mươi mốt) đồng, trong đó: Tiền nợ: 4.833.744.036 đồng, tiền lãi bản án số 01/2019/KDTM-ST đến ngày 15/01/2019 là 726.322.494 đồng, và tiền lãi tính tiếp từ ngày 16/01/2019 đến tháng 26/6/2024, lãi suất theo quy định nhà nước 8%/năm/12 tháng là: 2.113.957.391 đồng (tạm tính đến phiên tòa ngày 26.6.2024).
Công ty H2 xác định chỉ yêu cầu bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D có trách nhiệm trả nợ cho nguyên đơn theo đúng cam kết của hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/6/2016. Trong trường hợp bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì đề nghị Tòa án tuyên phát mãi tài sản bảo đảm là căn hộ chung cư tầng A6.2, KP Mỹ Khánh C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D đứng tên chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 037302/HĐ-MBN do Ủy ban nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 09/12/2009, để thu hồi khoản nợ gốc và tiền lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong khoản nợ trên.
3
Sau khi nhận tài sản thế chấp của bị đơn, nguyên đơn đã quản lý và sử dụng cho đến hôm nay, cụ thể cho thuê nhiều lần, hiện người thuê cuối cùng là bà Đỗ Thị Kim T, sinh năm 1972 và ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1966 đang sử dụng từ năm 2019 cho đến nay. Công ty H2 xác nhận nếu có tranh chấp với bà Đỗ Thị Kim T, ông Nguyễn Minh T1. Ngoài ra công ty H2 cũng không yêu cầu triệu tập thêm ai tham gia tố tụng trong vụ án này nữa.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn công ty H2 giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, buộc bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D thực hiện nghĩa vụ của bên bảo lãnh theo như cam kết tại hợp đồng bão lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/6/2016, phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ của công ty D3 đạt theo bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đ, tổng cộng: 7.647.023.921 (bảy tỷ sáu trăm bốn mươi bảy triệu không trăm hai mươi ba nghìn chín trăm hai mươi mốt) đồng, trong đó: Tiền nợ: 4.833.744.036 đồng, tiền lãi bản án số 01/2019/KDTM-ST đến ngày 15/01/2019 là 726.322.494 đồng, và tiền lãi tính tiếp từ ngày 16/01/2019 đến tháng 26/6/2024, lãi suất theo quy định nhà nước 8%/năm/12 tháng là: 2.113.957.391 đồng (tạm tính đến phiên tòa ngày 26.6.2024).
Bị đơn Ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D: Ông bà vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa hôm nay.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên qua:
1. Bà Đỗ Thị Kim T, ông Nguyễn Minh T1 trình bày: Thống nhất ý kiến nguyên đơn, việc thuê để ở, trường hợp nguyên đơn có nhu cầu lấy lại thì ông, bà đồng ý trả nhà. Ông bà xác định không tranh chấp với công ty. Ông bà không ý kiến gì khác và có đơn xin vắng mặt tại Tòa án.
2. Công ty D2: Vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa hôm nay.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý được quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ Điều 93 đến Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho các đương sự đúng quy định tại Điều 195, Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thời hạn chuẩn bị xét xử không đúng theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
4
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng các quy định chung về phiên tòa sơ thẩm, thủ tục bắt đầu phiên tòa, đảm bảo việc tranh tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án dân sự:
Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn công ty H2, buộc bị đơn Ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ theo bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ là 726.322.494 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 16/01/2019 đến thời điểm 26/6/2024 theo khoản 2 Điều 1 hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/6/2016 với mức tối đa bảo lãnh là 7.000.000.000 đồng.
Không chấp nhận số tiền lãi phát sinh vượt quá phạm vi bảo lãnh là 647.023.921 đồng,
Về án phí: Bị đơn Ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật cho số tiền không chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Công ty H2 khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D buộc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/06/2016 và có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ tổng cộng là 7.647.023.921 đồng (tạm tính đến ngày 26/06/2024) cho công ty H2
Do tài bảo lãnh cho khoản nợ của công ty D2 là căn hộ chung cư tầng A6.2, Khu phố M, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh do ông Lê Tiến Đ và bà Huỳnh Thị Mỹ D là chủ sở hữu. Mặt khác, công ty H2 lựa chọn nơi có tài sản bảo lãnh để khởi kiện, nên đây là vụ án tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7, theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2]. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Minh T1, bà Đỗ Thị Kim T có xin vắng mặt tại phiên tòa, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Minh T1, bà Đỗ Thị Kim T theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
5
Tòa án nhân dân Quận 7 đã tống đạt hợp lệ các văn bản của tòa án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D, công ty D2, nhưng các đương sự vẫn vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ, bà D, Công ty TNHH D2 theo điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Căn cứ cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án:
- Theo Phiếu yêu cầu xác minh ngày 29/04/2022 và ngày 12/4/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Công an P, quận T trả lời kết quả như sau: “ ...ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D bán nhà đi xuất cảnh”.
- Căn cứ Công văn số 1405/QLXNC –P5 ngày 07/06/2022 của Cục Q – Bộ C trả lời xác minh của Tòa án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh theo công văn số 351/TAQ7 ngày 02/6/2022:” Lê Tiến Đ, nam, sinh ngày 10/8/1966, thường trú tại 148/4 Bàu cát, phường A, quận T, TP H, được cấp hộ chiếu số B3178601 ngày 12/01/2009. Đương sự đã xuất nhập cảnh 14 lần, lần gần nhất xuất cảnh ngày 27/05/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh....
Huỳnh Thị Mỹ D, nữ, sinh năm 1975, thường trú tại 148/4 Bàu cát, phường A, quận T, TP H, được cấp hộ chiếu số B2360470 ngày 09/01/2008. Đương sự đã xuất nhập cảnh 07 lần, lần gần nhất xuất cảnh ngày 28/01/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh...."
- Căn cứ vào công văn số 495/TAQ7 ngày 30/5/2024 và công văn số 2113/QLXNC –P3 ngày 07/6/2024 của Cục Q – phòng 3 trả lời tòa án nhân dân Quận 7:“Lê Tiến Đ, nam, sinh ngày 10/8/1966, Chứng minh nhân dân [...] địa chỉ 1 B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã được cấp hộ chiếu số B2360470 * hết hạn (đã xuất nhập cảnh 15 lượt, lần gần nhất xuất cảnh ngày 28/01/2017.
Bà Huỳnh Thị Mỹ D, nữ, sinh ngày 08/6/1975, Chứng minh nhân dân số [...] địa chỉ 1 B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh đã được cấp hộ chiếu số B3178601 * hết hạn (đã xuất nhập cảnh 25 lượt, lần gần nhất xuất cảnh ngày 27/5/2017 * kèm bảng chi tiết”.
- Căn cứ công văn số 3160/PC06-Đ5 ngày 19/6/2024 của Phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Công an thành phố T3 trả lời tòa án nhân dân Quận 7: “Lê Tiến Đ, sinh ngày 10/8/1966, Chứng minh nhân dân [...] ngày 27/04/1984 (căn cước công dân số 0790666001631 ngày 06/06/2016); Huỳnh Thị Mỹ D, sinh này 08/6/1975, Chứng minh nhân dân [...] ngày 20/5/2003 (căn cước công dân số [...] ngày 06/06/2016), địa chỉ 1 B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
6
- Căn cứ công văn số 486/TAQ7 ngày 02/05/2024 và Phiếu cung cấp thông tin đăng ký doanh nghiệp số 5810/ĐKKD-T6 ngày 18/6/2024 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H: “Công ty TNHH D2 có mã doanh nghiệp số 0306062860 cấp ngày 09/10/2008 – đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 17/05/2017 .... có trụ sở tại số D Lô Q, Cư xá Phú Lâm C, Khu Phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Người đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Thị Mỹ D, sinh năm 1975; Chức vụ: Giám đốc; Thường trú tại số A B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh”
Ngày 07/6/2024 Công ty H2 đã thực hiện thủ tục đăng báo, đăng đài phát thanh truyền thông thông báo tìm kiếm Lê Tiến Đ, Huỳnh Thị Mỹ D theo quy định tại điều 381 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng đến địa chỉ số A B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và số D Lô Q, Cư xá Phú Lâm C, Khu Phố D, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cho Cty TNHH Dịch vụ Thương mại D4 và ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D, nhưng Công ty D2 và Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D không đến tòa trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án;
- Căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.”, bị đơn ông ông Đ, bà D đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, nên bị đơn ông Đ, bà D phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ do phía nguyên đơn xuất trình để xem xét giải quyết và Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn ông Đ, bà D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3.2]. Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/03/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xác định có căn hộ A6.2, khu phố M C, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã được Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ số 037302/HD-MBN ngày 09/12/2009 do Ủy ban nhân dân Quận G, T cho ông (bà) Lê Tiến Đ, Huỳnh Thị Mỹ D đã được đăng ký tại chi nhánh Q1.
Hiện căn hộ này bà Đỗ Thị Kim T, ông Nguyễn Văn T2 thuê từ năm 2019 đến nay, ông Nguyễn Văn t, bà Đỗ Thị Kim T đang cho người khác thuê lại. Về kết cấu hiện trang căn hộ không thay đổi theo giấy chứng nhận cấp cho ông (bà) Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D.
[3.3] Căn cứ công văn số 674/CNQ7 ngày 11/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1, thì căn hộ chung cư tầng A6.2, KP Mỹ Khánh C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở
7
hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 037302/HĐ-MBN/2009 ngày 9/12/2009 cho ông Lê Tiến Đ và bà Huỳnh Thị Mỹ D.
[3.4] Xét đối yêu cầu thanh toán số tiền nợ theo bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng, tại phần quyết định trang 6: “………xử: buộc Công ty D2 có nghĩa vụ trả cho công ty H2 số tiền 5.560.066.530 đồng, trong đó tiền nợ 4.833.744.036 đồng và lãi 726.322.494 đồng.... Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 bộ luật dân sự năm 2015...”.
Tuy nhiên từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến phiên tòa hôm nay, công ty D2 cũng không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho công ty H2 các khoản tiền trên, là vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
[3.5] Xét hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/06/2016 ký tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về hình thức của hợp đồng: Các bên giao kết bằng văn bản, tại thời điểm giao kết hợp đồng thì Bên bảo lãnh và Bên được bảo lãnh có năng lực pháp luật dân sự đầy đủ, nên thỏa mãn điều kiện về mặt chủ thể và mặt hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về nội dung của Hợp đồng bảo lãnh ký công chứng ngày 21/6/2016 có đầy đủ các điều khoản cơ bản xác định nội dung chủ yếu về đối tượng của hợp đồng, mà các bên thỏa thuận là cụ thể, được công khai, minh bạch thể hiện việc giao kết hợp đồng giữa nguyên đơn, bị đơn, người liên quan hoàn toàn tự nguyện, phù hợp nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận theo đúng quy định của pháp luật, các điều kiện về chủ thể, về mục đích, nội dung và hình thức của giao kết không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định, nên Hợp đồng bảo lãnh ngày 21/6/2016 có hiệu lực từ thời điểm giao kết, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ theo quy định tại Điều 335, Điều 336, Điều 339, Điều 385, Điều 401 Bộ Luật dân sự năm 2015.
[3.6] Căn cứ theo hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/06/2016 ký tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Điều 1.2: Được giao kết giữa công ty H2 với ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D mục đích để bảo lãnh cho hợp đồng kinh tế số 01/HT-HĐKT /2016 ký ngày 02/01/2016 được ký giữa công ty H2 và công ty D2, với tổng mức dư tối đa là 7.000.000.000 đồng (bảy tỷ đồng).
Tại Điều 3: Quyền, nghĩa vụ của các bên: Thì, quyền của bên nhận bảo lãnh xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật khi công ty D2 không hoàn thành nghĩa vụ được bảo lãnh khi đến hạn.
8
Tại Điều 4 điểm 1 và 1.2 xử lý tài sản bảo đảm: “... đến hạn thanh toán mà công ty D2 không thanh toán cho bên nhận bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền quyết định một trong ba phương thức xử lý... trực tiếp bán chuyển nhượng tài sản bảo lãnh để thu hồi nợ...”
Theo bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng về: “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, thì công ty D2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, nên Tòa án quyết định buộc Công ty phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ là 4.833.744.036 đồng và lãi là 726.322.494 đồng (tính đến ngày 15/02/2019). Tuy nhiên cho đến nay Công ty D2 vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Do công ty D2 không thực hiện nghĩa vụ, nên căn cứ theo hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/06/2016 thì ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên được bảo lãnh đối với bên nhận bảo lãnh theo quy định tại Điều 335, Điều 336, Điều 339 Bộ luật dân sự năm 2015.
[3.7] Theo hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/06/2016 ký tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh, thì điều kiện bên được bảo lãnh là bên bảo lãnh có tài sản bảo lãnh, đây là điều kiện để “Biện pháp bảo đảm” cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, thỏa thuận một cách chắc chắn. Biện pháp bảo đảm đi liền, không tách rời với nghĩa vụ chính trong hợp đồng, giao dịch chính. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đẩy đủ các nghĩa vụ đã cam kết, thì bên có quyền có thể áp dụng biện pháp bảo đảm đã thỏa thuận hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để buộc bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết nhằm bảo đảm quyền lợi cho mình.
-Theo quy định Khoản 1 Điều 335 Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa bảo lãnh là việc người thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) nếu khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được nhận bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Do đó công ty D2 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán tiền theo như cam kết của hợp đồng 01/HT-HĐKT /2016 ký ngày 02/01/2016 với Công ty H2 và không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ như bản án bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, Thành phố Đà Nẵng đã tuyên. Nên bên bảo lãnh phải chịu trách nhiệm đối với cam kết bảo lãnh của mình.
- Mặt khác, căn cứ theo hồ sơ thì đại diện pháp luật của công ty D2 là ông Lê Tiến Đ, nay là bà Huỳnh Thị Mỹ D và căn cứ công văn số 674/CNQ7 ngày 11/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ1, thì căn hộ chung cư tầng A6.2, KP Mỹ Khánh C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 037302/HĐ-MBN/2009 ngày 9/12/2009 cho ông Lê Tiến Đ và bà Huỳnh Thị Mỹ D. Ông Đ và bà D là chủ tài sản cho đến nay.
9
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông Lê Tiến Đ và bà Huỳnh Thị Mỹ D phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh và có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ 5.560.066.530 đồng theo bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 cho nguyên đơn.
[3.8] Xét đối với yêu cầu tính lãi của Công ty H2 từ ngày 16/01/2019 cho đến phiên tòa ngày 26/6/2024 với mức lãi suất 8%/tháng, Hội đồng xét xử xét thấy:
Do công ty D2 vi phạm nghĩa vụ thi hành án trong suốt thời gian dài từ 2019 cho đến nay, làm ảnh hưởng nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn. Do đó để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình, thì việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn là người bảo lãnh phải có trách nhiệm trả lãi cho nguyên đơn theo lãi suất 8%/số tiền còn nợ là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên theo hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/06/2016 giữa nguyên đơn công ty H2 và bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D có thỏa thuận phạm vi số tiền bảo lãnh là 7.000.000.000 (bảy tỷ) đồng, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả cho nguyên đơn số tiền 7.000.000.000 (bảy tỷ) đồng.
Đối với yêu cầu số tiền 647.023.921 đồng vượt quá phạm vi bảo lãnh, Hội đồng xét xử không chấp nhận. Công ty D2 có trách nhiệm thi hành số tiền 647.023.921 đồng này cho nguyên đơn theo Bản án số 01/2019/KDTM-ST ngày 15/01/2019 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
[3.9] Theo Điều 4 điểm 1 và 1.2 của hợp đồng bảo lãnh, công ty H2 và bị đơn ông Lê Tiến Đ và bà Huỳnh Thị M có thỏa thuận trường hợp đến hạn thanh toán mà bị đơn không thanh toán số tiền, thì công ty H2 được quyền xử lý tài sản bảo đảm, cụ thể: “... trực tiếp bán chuyển nhượng tài sản bảo lãnh bảo đảm để thu hồi nợ...”. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận công ty H2 được quyền liên hệ với cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để tiến hành phát mãi tài sản bảo đảm, thu hồi công nợ. Trường hợp phát mãi tài sản mà số tiền thu về còn thừa thì nguyên đơn trả lại bị đơn, nếu không đủ thì bị đơn phải tiếp tục thanh toán số tiền còn nợ và lãi suất theo quy định cho đến khi thanh toán xong số tiền trên.
Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần, nên bị đơn ông Lê Tiến Đ và bà Huỳnh Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải thanh toán cho công ty H2 số tiền là 115.000.000 (một trăm mười lăm triệu) đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
10
Do nguyên đơn công ty H2 không được chấp nhận đối với yêu cầu số tiền 647.023.921 đồng vượt quá phạm vi bảo lãnh, nên nguyên đơn công ty H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 29.880.957 (hai mươi chín triệu tám mươi tám triệu chín trăm năm mươi bảy) đồng cho phần yêu cầu không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 335, Điều 336, Điều 339, Điều 385, Điều 401, khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015
- Căn cứ điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm.
Xử:
[1]. Về hình thức: Xét xử vắng mặt bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH D2, Bà Đỗ Thị Kim T, Ông Nguyễn Minh T1,
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Tổng công ty Cổ phần D1, buộc bị đơn bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D phải thực hiện theo hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/06/2016 ký tại Văn phòng C1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
[2.2].Buộc bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 7.000.000.000 đồng, trong đó: tiền nợ: 5.560.066.530 đồng và tiền lãi: 1.439.933.470 đồng.
Trả ngay một lần khi án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
[2.3] Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị M vẫn vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì nguyên đơn được quyền liên hệ cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền để phát mãi tài sản bảo
11
lãnh là căn hộ chung cư tầng A6.2, KP Mỹ Khánh C, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đã cấp cho ông Lê Tiến Đ và bà Huỳnh Thị Mỹ D theo giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 037302/2009/HĐ-MBN ngày 9/12/2009 để thu hồi số tiền nợ trên.
Nếu số tiền phát mãi thừa thì bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D được nhận lại, còn số tiền phát mãi không đủ, thì bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị M tiếp tục thanh toán số tiền còn nợ trên cho đến khi thanh toán xong số tiền nợ.
Trong trường hợp bị đơn chậm thi hành khoản tiền phải thi hành thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành cho theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thanh toán.
[3] Không chấp nhận đối với yêu cầu của nguyên đơn Tổng công ty Cổ phần D1 buộc bị đơn ông Lê Tiến Đ, bà Huỳnh Thị Mỹ D phải chịu trách nhiệm cho tiền số tiền 647.023.921 đồng, do vượt quá phạm vi bảo lãnh của hợp đồng bảo lãnh số 03/HĐBL-16 ngày 21/06/2016 ký tại Văn phòng C1, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
[4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Đ, bà D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 115.000.000 đồng.
Nguyên đơn phải chịu án phí cho phần yêu cầu không được chấp nhận 29.880.957 đồng.
H1 lại cho nguyên đơn Tổng công ty Cổ phần D1 tiền án phí dân sự sơ thẩm là 26.899.076 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0014279 ngày 26/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
[5]. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hợp lệ bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhận: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
12
- - TAND TP.HCM;
- - VKSND Quận 7;
- - C/C THADS Quận 7;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ vụ án, VP
- (TK Thúy).
13
Bản án số 190/2024/DS-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp buộc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
- Số bản án: 190/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp buộc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bảo lãnh nợ