|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 190/2025/HS-PT Ngày: 12/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thanh Nhã
Các Thẩm phán:Ông Hoàng Văn Thành
Ông Nguyễn Văn Chương
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1175/2024/TLPT-HS ngày 24/12/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2024/HSST ngày 05/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội.
Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1957; giới tính: nam; ĐKHKTT: cụm 2, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 4/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Đỗ Thị Ý; có vợ và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ từ ngày 01/01/2024 đến ngày 09/01/2024; bị cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 31/12/2023, tại phòng khách nhà ở của Nguyễn Văn T tại cụm B, xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang có 04 đối tượng đánh bạc dưới hình thức đánh chắn, được thua bằng tiền và 05 người ngồi xem đánh bạc. Trong đó, 04 đối tượng đang đánh bạc gồm: Nguyễn Văn N1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hữu Q, Nguyễn Văn T1. 05 người đang ngồi uống nước và xem đánh bạc gồm: Nguyễn Văn T, Nguyễn Danh Đ, Ngô Văn D, Nguyễn Đức H1 và Nguyễn Quốc T2.
Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã phát hiện và thu giữ đồ vật, tài sản, gồm:
- - Thu giữ của Nguyễn Văn N1 số tiền 230.000 đồng; Nguyễn Văn H 200.000 đồng; Nguyễn Hữu Q 860.000 đồng và Nguyễn Văn T1 2.225.000 đồng.
- - Thu giữ ở dưới đệm gần vị trí các đối tượng ngồi đánh bạc số tiền 120.000 đồng; T3 ở gậm giường gần chiếu bạc số tiền 770.000 đồng.
- - Thu giữ 02 bộ bài Chắn (mỗi bộ A quân bài); 02 đĩa sứ.
- - Thu giữ 01 ống nhựa màu trắng bên trong có 190.000 đồng. (Xác định là tiền hồ của những người đánh bạc bỏ ra cho T).
- - Thu giữ của Nguyễn Văn T số tiền 950.000 đồng; của Nguyễn Danh Đ số tiền 1.440.000 đồng; của Ngô Văn D số tiền 4.000.000 đồng; của Nguyễn Đức H1 số tiền 1.700.000 đồng và của Nguyễn Quốc T2 số tiền 1.190.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Do không có việc làm, ngày 31/12/2023, T đã chuẩn bị sẵn 03 bộ bài Chắn (loại 100 quân) và 03 đĩa sứ, mục đích để thu tiền hồ của các đối tượng đến nhà T đánh bạc dưới hình thức chơi Chắn. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày có các đối tượng, gồm: Nguyễn Văn N1; Nguyễn Văn H; Nguyễn Hữu Q và Nguyễn Văn T4 đến nhà T để đánh bạc. T đã chuẩn bị 01 đĩa sứ, 01 bộ bài Chắn (loại 100 quân bài) và sắp xếp chỗ ngồi tại vị trí nền nhà bên tay trái (theo hướng từ ngoài cửa đi vào trong nhà) để 04 đối tượng nêu trên đánh bạc (gọi là chiếu số 01). Khi đánh bạc, những người chơi ở chiếu số 01 thoả thuận với nhau, nếu ai ù có cước sắc (tức là ù 8 đỏ, ù bạch định...) thì phải bỏ ra số tiền 10.000 đồng cho T, gọi là tiền hồ (tiền phế) và được để vào trong chiếc ống nhựa đặt ở bên cạnh chiếu bạc. Khi bắt đầu đánh bạc, N1 bỏ ra số tiền 500.000 đồng để đánh bạc và chơi thua 270.000 đồng đến khi bị bắt giữ bị thu giữ 230.000 đồng; H bỏ ra số tiền 260.000 đồng, chơi thua đến khi bị bắt giữ bị thu giữ 200.000 đồng; Q bỏ ra số tiền 400.000 đồng và chơi thắng đến khi bị bắt giữ bị thu giữ 860.000 đồng và T4 bỏ ra số tiền 140.000 đồng để đánh bạc. Ngồi chơi được khoảng 15 phút thắng 140.000 đồng, do có việc cá nhân nên T4 đi về, không chơi nữa thì Nguyễn Văn T1 vào thay, ngồi đánh bạc cùng với N1, H và Q. Khi chơi, T1 bỏ ra số tiền 2.225.000 đồng và chơi hoà đến khi bị bắt giữ bị thu giữ 2.225.000 đồng. Xác định, tổng số tiền các đối tượng ở chiếu số 01 sử dụng để đánh bạc tại thời điểm bị bắt giữ là 3.515.000 đồng, tiền hồ là 110.000 đồng.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, có các đối tượng gồm: Nguyễn Quốc T2, Nguyễn Đức T5, Ngô Văn T6, Nguyễn Đình T7 đến nhà T và rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh C. T đã chuẩn bị cho 01 bộ bài chắn (loại 100 quân), 01 đĩa sứ và sắp xếp chỗ ngồi tại vị trí nền nhà bên tay phải (theo hướng từ ngoài cửa đi vào trong nhà) để 04 đối tượng nêu trên đánh bạc (gọi là chiếu số 02). T yêu cầu các đối tượng đánh bạc ở chiếu bạc số 02 nếu có ai ù có cước sắc (ù 8 đỏ, bạch định...) thì phải bỏ ra ngoài cho T 10.000 đồng, các đối tượng đều đồng ý và chơi đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì tự nghỉ. Khi bắt đầu đánh bạc, Nguyễn Quốc T2 bỏ ra số tiền 1.300.000 đồng để đánh bạc và chơi thua 110.000 đồng đến khi nghỉ còn 1.190.000 đồng; T5 bỏ ra số tiền 250.000 đồng và chơi thua đến khi nghỉ còn 100.000 đồng; Ngô Văn T6 bỏ ra số tiền 200.000 đồng và chơi thua đến khi nghỉ 150.000 đồng và T7 bỏ ra số tiền 200.000 đồng để đánh bạc và chơi thua 90.000 đồng đến khi nghỉ 110.000 đồng. Xác định, tổng số tiền các đối tượng ở chiếu số 02 sử dụng để đánh bạc tại thời điểm bị phát hiện 1.950.000 đồng, tiền hồ 40.000 đồng.
Cùng thời điểm Q, T5, Văn T6, T7 đến nhà T còn có Nguyễn Danh Đ, Ngô Văn D, Nguyễn Quốc Đ1, Nguyễn Văn V, T chuẩn bị 01 bộ bài chắn (loại 100 quân), 01 đĩa sứ và sắp chỗ ngồi trên giường phía bên phải hướng từ cửa bước vào cho Đ, D, Đ1, V (gọi là chiếu bạc số 3) đánh chắn được thua bằng tiền. T yêu cầu các đối tượng đánh bạc ở chiếu bạc số 02 nếu có ai ù có cước sắc (ù 8 đỏ, bạch định...) thì phải bỏ ra ngoài cho T 10.000 đồng, các đối tượng đều đồng ý và chơi đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ. Khi bắt đầu đánh bạc, Nguyễn Danh Đ bỏ ra số tiền 1.200.000 đồng để đánh bạc và chơi thắng 200.000 đồng đến khi nghỉ còn 1.440.000 đồng; D bỏ ra số tiền 300.000 đồng và chơi hoà đến khi nghỉ còn 300.000 đồng; Đ1 bỏ ra số tiền 300.000 đồng và chơi thua 100.000 đồng đến khi nghỉ còn 200.000 đồng và V bỏ ra số tiền 310.000 đồng để đánh bạc, chơi thua 120.000 đồng, đến khi nghỉ còn 190.000 đồng. Xác định, tổng số tiền các đối tượng ở chiếu số 03 sử dụng để đánh bạc tại thời điểm bị bắt giữ 2.110.000 đồng, tiền hồ 40.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 83/2024/HSST ngày 05/11/2024, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt nguyễn Văn T 12 tháng tù về tội “Gá bạc".
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/11/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Bị cáo Nguyễn Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo và khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết.
- - Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận về hình thức.
Tòa án cấp sơ thẩm quy kết Nguyễn Văn T phạm tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định. Cấp sơ thẩm áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo, xử phạt bị cáo 12 tháng tù và cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kháng cáo của các bị cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ được tóm tắt nêu trên, bị cáo thừa nhận bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Đan Phượng xử phạt Nguyễn Văn T về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng, đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, thành khẩn khai báo, đã ăn năn, hối cải; số tiền các đối tượng đánh bạc không lớn, số tiền bị cáo hưởng lợi không lớn; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nay đã cao tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, có thể tạo điều kiện cho bị cáo được tự cải tạo cũng đủ sức giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.
[3] Bị cáo được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Nguyễn Văn T 12 tháng tù về tội “Gá bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ Điều 136, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Nhã |
Bản án số 190/2025/HS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội gá bạc
- Số bản án: 190/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gá bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Gá bạc
